Đó là sáng mồng 4 Tết Kỷ Sửu năm 1949, tại đình làng Phong Cốc, xã Hà Nam thuộc tỉnh Quảng Yên cũ (nay là tỉnh Quảng Ninh), quê tôi diễn ra cuộc chơi đu và tình yêu giữa tôi với ông nhà cũng bén từ… cây đu xuân ấy.

Sớm ấy, làng tôi đổ ra cửa đình Phong Cốc hướng về cây đu thưởng ngoạn từng cặp chơi đu. Ở nhiều cặp đu là những nam thanh nữ tú. Cặp trước vừa buông đu, cặp sau “chớp” liền và thoắt cái, họ đã nhảy lên giá đu, xoay lại cùng nhau lấy đà vút lên cao khiến dân làng reo hò vang dậy. Cặp sau chính là cặp đu của anh Bùi Huy Thách cùng tôi đã “vi vu” trên không một cách ngoạn mục nên làng thưởng 300 đồng, tôi “sòng phẳng” chia đôi, mỗi bên 150 đồng tiền thời ấy.

Từ khi biết nhau, tình cảm giữa chúng tôi bắt đầu nảy nở. Ngày đó, tôi ngoài 20 tuổi, đôi mắt đen huyền cùng làn da trắng hồng trên khuôn mặt thanh xuân đã khiến chàng thanh niên Bùi Huy Thách xao xuyến ngay từ buổi đầu gặp gỡ. Thế rồi cuộc kháng chiến chống Pháp đã cuốn cả hai chúng tôi vào trận. Tôi trở thành một cán bộ chỉ huy đội du kích xã, còn anh Thách xung vào lực lượng công an. Năm 1951, cả hai đều bị địch bắt, chúng giam tôi ở nhà tù Máy Chai, giam anh Thách ở nhà tù Đại Xá (Hải Phòng). Kẻ thù đã dùng đủ ngón đòn tra tấn dã man. Với tôi, chúng đào hố chôn đến tận cổ đe dọa nhưng tôi cùng hai nữ đồng đội khác không khai nửa lời. Còn anh Thách, chúng dằn ngửa xuống đất, dùng dóng cửa chuồng trâu đặt ngang ngực anh rồi hai tên ngụy mỗi đứa một bên lấy chân dận tới dận lui lên hai đầu dóng khiến anh ngất lịm. Chưa tha, sau khi giội nước mắm lên mặt mũi để anh tỉnh, chúng lặp lại cách tra tấn cũ nhưng vẫn không khuất phục nổi anh. Có được tinh thần hy sinh quả cảm ấy bởi từ lâu, tôi cũng như anh đều nuôi chí căm thù giặc sâu sắc, mong có dịp trả thù cho dân làng. Hình ảnh địch càn vào làng tôi, đánh mẹ tôi gãy cả bốn dẻ xương sườn một lúc, sau đó lôi từng người dân ra bắn bỏ, tôi không thể nào quên. Đến tháng 7-1954, theo Hiệp định Geneve, chúng trao trả tù binh, chúng tôi cùng những bạn tù khác thoát khỏi những năm tháng cầm tù của địch.

Biết nhau từ độ ấy nhưng chưa một lần anh Thách biết rõ nhà tôi, chỉ biết rằng tôi ở làng ấy, xã ấy. Một chiều đông giá cuối năm 1955, một lần anh tới làng mua dây khoai lang hỏi thăm vào đúng nhà tôi. Nhìn thấy anh Thách vào nhà mình, tôi bối rối chỉ kịp “ơ” một tiếng, anh Thách cũng luống cuống nhìn tôi “ơ” theo. Tôi bẽn lẽn mời anh vào nhà và mùa đông năm ấy, chúng tôi thành vợ, thành chồng. Tình yêu thương anh đặt vào tôi cũng như tình nghĩa mặn nồng tôi dành cho anh đã hòa quyện, xây đắp cuộc sống hạnh phúc bền chặt khiến con cháu tự hào, noi theo.

Trở về cuộc sống đời thường, do hậu quả từ những đòn tra tấn của địch trước đây, rồi cuộc sống mưu sinh cho một gia đình đông con khiến sức khỏe chúng tôi kém dần. Năm 2007, ông nhà tôi qua đời. Vượt lên nỗi đau, tôi bươn chải chèo lái cuộc sống gia đình. Tuy đã 90 tuổi, tôi vẫn giữ nghề đông y gia truyền bắt mạch, bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân trong vùng. Chắt chiu từ chút sức lao động còn lại, hằng năm, tôi gắng dành từ 5 đến 6 triệu đồng ủng hộ phong trào của các tổ chức đoàn thể và gửi quà tặng bộ đội đang làm nhiệm vụ nơi biên giới, hải đảo.

(*)Ghi theo lời kể của CCB Trần Thị My ở phường Nam Khê, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

ĐINH QUANG HUY(*)