Bà là bác sĩ Trương Thị Hội Tố.

Với khuôn mặt phúc hậu, nụ cười thường trực trên môi và kinh nghiệm của một thầy thuốc lão thành, 25 năm qua bà làm yên lòng biết bao gia đình có người thân ốm đau, bệnh tật. Nhưng mấy ai biết rằng, con người nhân hậu ấy từng hai lần vượt qua nỗi đau của người vợ liệt sĩ.

leftcenterrightdel
Vợ chồng Vũ Quang Bình-Trương Thị Hội Tố hồi trẻ. 
Năm 1952, người con gái quê gốc Hà Tĩnh Trương Thị Hội Tố sau khi tốt nghiệp Trường nữ hộ sinh Liên khu 3-4 thành hôn với chàng trai tuổi trẻ tài cao Nguyễn Xuân, Trung đoàn phó Trung đoàn 64 của Đại đoàn 320 danh tiếng. Nguyễn Xuân quê Hà Nội, học Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 1, là một trong những cán bộ trung đoàn trẻ nhất toàn quân hồi bấy giờ. Cưới xong, Hội Tố về Sơn Tây công tác, còn Nguyễn Xuân tiếp tục cùng đơn vị hành quân chiến đấu. Hương lửa tình yêu đang nồng thì 13 tháng sau ngày cưới, ngày 31-10-1953, người trung đoàn phó trẻ tuổi đã anh dũng hy sinh trong trận Tây Nam Ninh Bình.

- Ai cũng tiếc cho anh Xuân, tuy còn trẻ tuổi nhưng sớm bộc lộ tài năng của người chỉ huy. Anh ấy to cao nhưng nói năng rất nhẹ nhàng với mọi người, lại rất thương vợ-giờ đây, ngồi kể chuyện với tôi, bà Hội Tố vừa thương vừa tự hào về người chồng đầu tiên của mình.

Nỗi đau mất chồng tạm nguôi ngoai, đến năm 1957, qua giới thiệu của bạn bè, Hội Tố quen biết Vũ Quang Bình, vốn là bạn chiến đấu với Nguyễn Xuân ở Sư đoàn 320, đang là học viên Trường Chính trị trung cao cấp (nay là Học viện Chính trị). Người cán bộ quê Hải Phòng này có vợ hoạt động cách mạng bị Pháp bắt tù đày, tra tấn dã man nên đã mất. Đồng cảnh ngộ, cùng chí hướng, hai người đã đến với nhau.

- Sau khi cưới, tôi tốt nghiệp Trường Đại học Y Hà Nội, được phân công về Yên Bái công tác. Ở đó được 4 năm thì tôi chuyển về Khoa Sản của Bệnh viện Hà Nam. Tuy lúc đó đế quốc Mỹ chưa ném bom miền Bắc nhưng do điều kiện công việc nên thời gian ở bên nhau của chúng tôi cũng chẳng được bao nhiêu-bà Hội Tố kể.

Vừa kịp sinh cho chồng hai đứa con trai thì giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc. Năm 1965, từ Sư đoàn 308, Vũ Quang Bình được điều động về công tác trên tuyến lửa của Đường 20 Quyết Thắng ở Quảng Bình, sau đó là Phó chính ủy của Sư đoàn 470 thuộc Bộ tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, rồi phụ trách Chính ủy Sư đoàn 968 đóng quân bên nước bạn Lào. Một mình bà vừa làm việc vừa nuôi con ở Phủ Lý, “túi bom” miền Bắc lúc bấy giờ bởi đó là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội. Đường Trường Sơn dài dằng dặc, Mỹ đánh phá ác liệt nên ông Vũ Quang Bình rất ít khi về nhà. Bà nhớ, lần cuối cùng ông về là năm 1971, khi cô con gái thứ ba Vũ Thị Hội Trường mới một tuổi. Lần đó, ông có viết cho con gái một bức thư rồi đưa cho bà, cười bảo: “Mình cất thư này, nếu tôi có mệnh hệ gì thì khi con 15 tuổi hãy đưa cho nó đọc”. Không ngờ, lời của ông nghiệm vào sự thật.

Ngày 4-4-1973, nghĩa là khi sau Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết vài tháng, chiếc xe chở Chính ủy Bộ đội Trường Sơn Đặng Tính, phụ trách Chính ủy Sư đoàn 968 Vũ Quang Bình đi công tác bất ngờ trúng mìn chống tăng của địch cài lại, cả 6 người trên xe hy sinh. Vài ngày sau đó, Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 470 Nguyễn Đức Phương về đón bà “vào thăm anh Bình chuẩn bị đi công tác”. Ngày 7-4, vào đến gần bến phà Long Đại (Quảng Bình), ông Phương mới cho biết chồng bà đã hy sinh và được mai táng ở đây.

- Tôi đau đớn đến ngất xỉu và từ đó cho đến khi trở về Trường Trung cấp Y tế Nam Định, nơi tôi dạy học, người tôi mụ đi, không biết gì. Thương anh ấy quá, cả đời trận mạc nơi khó khăn, gian khổ nhất, ngày hòa bình đang đến gần lại vĩnh viễn bỏ tôi và các con ra đi. Thương cho 3 đứa con nhỏ của tôi giờ đây không còn bố, nơi nương tựa và niềm tự hào của chúng. Càng nghĩ, tôi càng đau đớn… Nhưng rồi, phải gắng sống để nuôi các con nên người.

Người mẹ ấy đã âm thầm chịu đựng khổ đau để vừa nuôi con, vừa phấn đấu trong sự đùm bọc, thương yêu, cảm phục của bạn bè và đồng nghiệp. Năm 1986, khi 2 con trai đã trưởng thành đang học tập ở nước ngoài, con gái út đã học cấp 3, bà Hội Tố sang Ăng-gô-la làm chuyên gia y tế, đến năm 1991 mới trở về nước, tiếp tục giữ chức vụ Phó hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Nam Định.

leftcenterrightdel
Bác sĩ Hội Tố (đeo kính) và đồng nghiệp khám, tư vấn cho bệnh nhân. Ảnh do nhân vật cung cấp 
Năm 1992, nghỉ hưu, bà về Hà Nội sống với con ở đường Trương Định, quận Hai Bà Trưng. Tham gia Hội Chữ thập đỏ của quận, bà cùng một số bác sĩ nay khám từ thiện cho phường này, mai khám cho phường khác. Được một thời gian, bà nghĩ hội có đến 5, 6 bác sĩ, tại sao không tổ chức phòng khám cho nhân dân? Nghĩ là làm, bà đứng ra tổ chức phòng khám từ thiện và mời các bác sĩ trong Hội Chữ thập đỏ của quận cùng tham gia. Hồi đó, nhà cửa quá khó khăn, trong vòng mấy năm, phòng khám phải di chuyển 7 lần. Sau đó, thấy công việc của bà rất hữu ích nên UBND phường Giáp Bát, lúc đó còn thuộc quận Hai Bà Trưng, cho mượn một phòng và Hội Chữ thập đỏ của phường xem cơ sở của bà như một đơn vị trực thuộc. Khó khăn nhất là đội ngũ thầy thuốc. Các bác sĩ làm việc cho phòng khám đều có kinh nghiệm, được nhiều nơi mời mọc với ưu đãi cao. Nhưng được sự động viên của bà Hội Tố, họ đều tự nguyện làm việc từ thiện vì bà con nghèo. Gần 25 năm qua, phòng khám đã có 6 bác sĩ tự nguyện, nhưng tuổi cao, sức yếu, người thì mất, người phải nghỉ vì đau ốm, đến nay vẫn còn bác sĩ quân y về hưu Nguyễn Văn Đức, 77 tuổi và y tá Lê Thị Sóc, 86 tuổi làm việc với bà. Phòng khám mở cửa thứ hai và thứ năm hằng tuần, các bác sĩ thay nhau túc trực.

- Chúng tôi chỉ khám và tư vấn sức khỏe cho bà con, không kê đơn thuốc cho một ai. Người bệnh đến với chúng tôi, sau khi được khám, họ đưa đơn thuốc của các bệnh viện hỏi chúng tôi cách uống thuốc như thế nào, thuốc hết hạn sử dụng chưa? Hoặc đưa các phiếu xét nghiệm nhờ chúng tôi “đọc” giùm. Bà con lớn tuổi thấy đau đầu, đến nhờ chúng tôi khám xem có phải do cao huyết áp hay không… Những người bệnh nhẹ, chúng tôi động viên họ, tư vấn cách điều trị, còn bệnh nặng thì khuyên nên đến bệnh viện. Chức năng của chúng tôi là khám và tư vấn, không kê đơn thuốc.

Phòng khám và tư vấn miễn phí phường Giáp Bát luôn luôn đông khách. Bà Hội Tố tính rằng, trung bình mỗi tháng có hơn 100 bệnh nhân đến nơi đây, và cứ thế suốt 25 năm qua, bà không thể tính được phòng khám đã giúp đỡ bao nhiêu người. Bà nhớ nhất chị Đặng Thị Nhàn ở tổ 15, phường Giáp Bát. Chị Nhàn nghề nghiệp không ổn định, chồng là công nhân thường xuyên ốm đau, có đứa con không may bị bại não từ nhỏ. Các bác sĩ của phòng khám thường xuyên đến tận nhà khám cho hai bố con, có thuốc gì tốt đều dành cho nhà chị. Người nghèo, kể cả người có điều kiện sống cao thích đến đây để được sẻ chia, đồng cảm trong sự ấm áp của tấm lòng các bác sĩ.

- Có bà đến nhờ chúng tôi đo huyết áp cả hai tay xem có bằng nhau không-bà Hội Tố cười-để yên lòng bệnh nhân, tôi vừa làm vừa nhịn cười, nghĩ, không biết phòng khám ở các bệnh viện đã có trường hợp như thế này chưa? Nhiều bà con còn nghèo khổ, hiểu biết hạn chế, mình là bác sĩ phải làm sao cho họ yên lòng rồi từ từ giải thích, chứ quở trách họ thì còn gì là lương y nữa.

Hình ảnh các bác sĩ tóc bạc trắng tận tình, cặn kẽ chỉ dẫn cho người bệnh đã làm xúc động nhiều người. Tiếng lành đồn xa, giờ đây không chỉ bà con ở phường Giáp Bát, mà ở nơi xa khác cũng đến phòng khám, có người còn tặng thuốc men để giúp những người nghèo hơn. Bà Nguyễn Thị Trung, 83 tuổi ở phường Quỳnh Lôi, quận Hai Bà Trưng thường xuyên đến tặng thuốc, vận động con cái ủng hộ phòng khám 2 triệu đồng. Bà Đỗ Thị Minh Tân ở tổ 17, phường Giáp Bát thường tặng thuốc B1. Gặp chúng tôi, bà Tạ Thị Nhâm ở phường Giáp Bát, người đã 20 năm nay thường xuyên đến phòng khám này tự hào: Bà Hội Tố và các thầy thuốc ở đây như những vị “Bồ Tát sống”.

Tấm lòng nhân hậu của bà Trương Thị Hội Tố lay động, lôi cuốn nhiều người làm việc thiện, trong đó có những người con thành đạt của bà. Con trai đầu, Đại tá Vũ Hội An, nguyên Phó chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Phòng không-Không quân và vợ thường giúp mẹ và hội viên Hội Chữ thập đỏ phường quyên góp, đi thăm các cháu bệnh nhân ở Bệnh viện K, tặng bò cho bà con hai xã nghèo ở Ba Vì. Kỹ sư Vũ Thị Hội Trường, con gái út của bà, từng nuôi một bé trai có hoàn cảnh khó khăn từ lớp 2 cho đến khi vào đại học, nay tiếp tục đỡ đầu một cháu gái đang học lớp 10 có bố chết do tai nạn lao động.

Ra về, tôi nhớ mãi lời của bà Hội Tố: “Tôi ước ao mỗi phường ở Hà Nội có một phòng khám và tư vấn miễn phí. Như vậy đỡ khổ cho bà con và giảm phần nào cho các bệnh viện đang quá tải”. Tôi nghĩ, phải chăng nỗi đau của người vợ liệt sĩ đã biến thành nghị lực phi thường và niềm yêu thương con người để bà được mọi người yêu quý gọi là vị Bồ Tát giữa đời thường.

HỒNG SƠN

Người vợ hai liệt sĩ có tấm long Bồ Tát

QĐND - Giữa mùa hè nắng như đổ lửa xuống Thủ đô, cứ đều đặn thứ hai hằng tuần, người ta lại thấy cụ bà 84 tuổi lặng lẽ bắt xe ôm từ nhà riêng ở đường Nguyễn Viết Xuân, phường Khương Mai, quận Thanh Xuân đến phòng khám tư vấn miễn phí tại phường Giáp Bát, quận Hoàng Mai. Ở nơi đó, rất nhiều bà con chờ bà khám và tư vấn về sức khỏe.

Bà là bác sĩ Trương Thị Hội Tố.

Với khuôn mặt phúc hậu, nụ cười thường trực trên môi và kinh nghiệm của một thầy thuốc lão thành, 25 năm qua bà làm yên lòng biết bao gia đình có người thân ốm đau, bệnh tật. Nhưng mấy ai biết rằng, con người nhân hậu ấy từng hai lần vượt qua nỗi đau của người vợ liệt sĩ.

Năm 1952, người con gái quê gốc Hà Tĩnh Trương Thị Hội Tố sau khi tốt nghiệp Trường nữ hộ sinh Liên khu 3-4 thành hôn với chàng trai tuổi trẻ tài cao Nguyễn Xuân, Trung đoàn phó Trung đoàn 64 của Đại đoàn 320 danh tiếng. Nguyễn Xuân quê Hà Nội, học Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 1, là một trong những cán bộ trung đoàn trẻ nhất toàn quân hồi bấy giờ. Cưới xong, Hội Tố về Sơn Tây công tác, còn Nguyễn Xuân tiếp tục cùng đơn vị hành quân chiến đấu. Hương lửa tình yêu đang nồng thì 13 tháng sau ngày cưới, ngày 31-10-1953, người trung đoàn phó trẻ tuổi đã anh dũng hy sinh trong trận Tây Nam Ninh Bình.

- Ai cũng tiếc cho anh Xuân, tuy còn trẻ tuổi nhưng sớm bộc lộ tài năng của người chỉ huy. Anh ấy to cao nhưng nói năng rất nhẹ nhàng với mọi người, lại rất thương vợ-giờ đây, ngồi kể chuyện với tôi, bà Hội Tố vừa thương vừa tự hào về người chồng đầu tiên của mình.

Nỗi đau mất chồng tạm nguôi ngoai, đến năm 1957, qua giới thiệu của bạn bè, Hội Tố quen biết Vũ Quang Bình, vốn là bạn chiến đấu với Nguyễn Xuân ở Sư đoàn 320, đang là học viên Trường Chính trị trung cao cấp (nay là Học viện Chính trị). Người cán bộ quê Hải Phòng này có vợ hoạt động cách mạng bị Pháp bắt tù đày, tra tấn dã man nên đã mất. Đồng cảnh ngộ, cùng chí hướng, hai người đã đến với nhau.

- Sau khi cưới, tôi tốt nghiệp Trường Đại học Y Hà Nội, được phân công về Yên Bái công tác. Ở đó được 4 năm thì tôi chuyển về Khoa Sản của Bệnh viện Hà Nam. Tuy lúc đó đế quốc Mỹ chưa ném bom miền Bắc nhưng do điều kiện công việc nên thời gian ở bên nhau của chúng tôi cũng chẳng được bao nhiêu-bà Hội Tố kể.

Vừa kịp sinh cho chồng hai đứa con trai thì giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc. Năm 1965, từ Sư đoàn 308, Vũ Quang Bình được điều động về công tác trên tuyến lửa của Đường 20 Quyết Thắng ở Quảng Bình, sau đó là Phó chính ủy của Sư đoàn 470 thuộc Bộ tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, rồi phụ trách Chính ủy Sư đoàn 968 đóng quân bên nước bạn Lào. Một mình bà vừa làm việc vừa nuôi con ở Phủ Lý, “túi bom” miền Bắc lúc bấy giờ bởi đó là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội. Đường Trường Sơn dài dằng dặc, Mỹ đánh phá ác liệt nên ông Vũ Quang Bình rất ít khi về nhà. Bà nhớ, lần cuối cùng ông về là năm 1971, khi cô con gái thứ ba Vũ Thị Hội Trường mới một tuổi. Lần đó, ông có viết cho con gái một bức thư rồi đưa cho bà, cười bảo: “Mình cất thư này, nếu tôi có mệnh hệ gì thì khi con 15 tuổi hãy đưa cho nó đọc”. Không ngờ, lời của ông nghiệm vào sự thật.

Ngày 4-4-1973, nghĩa là khi sau Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết vài tháng, chiếc xe chở Chính ủy Bộ đội Trường Sơn Đặng Tính, phụ trách Chính ủy Sư đoàn 968 Vũ Quang Bình đi công tác bất ngờ trúng mìn chống tăng của địch cài lại, cả 6 người trên xe hy sinh. Vài ngày sau đó, Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 470 Nguyễn Đức Phương về đón bà “vào thăm anh Bình chuẩn bị đi công tác”. Ngày 7-4, vào đến gần bến phà Long Đại (Quảng Bình), ông Phương mới cho biết chồng bà đã hy sinh và được mai táng ở đây.

- Tôi đau đớn đến ngất xỉu và từ đó cho đến khi trở về Trường Trung cấp Y tế Nam Định, nơi tôi dạy học, người tôi mụ đi, không biết gì. Thương anh ấy quá, cả đời trận mạc nơi khó khăn, gian khổ nhất, ngày hòa bình đang đến gần lại vĩnh viễn bỏ tôi và các con ra đi. Thương cho 3 đứa con nhỏ của tôi giờ đây không còn bố, nơi nương tựa và niềm tự hào của chúng. Càng nghĩ, tôi càng đau đớn… Nhưng rồi, phải gắng sống để nuôi các con nên người.

Người mẹ ấy đã âm thầm chịu đựng khổ đau để vừa nuôi con, vừa phấn đấu trong sự đùm bọc, thương yêu, cảm phục của bạn bè và đồng nghiệp. Năm 1986, khi 2 con trai đã trưởng thành đang học tập ở nước ngoài, con gái út đã học cấp 3, bà Hội Tố sang Ăng-gô-la làm chuyên gia y tế, đến năm 1991 mới trở về nước, tiếp tục giữ chức vụ Phó hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Nam Định.

Năm 1992, nghỉ hưu, bà về Hà Nội sống với con ở đường Trương Định, quận Hai Bà Trưng. Tham gia Hội Chữ thập đỏ của quận, bà cùng một số bác sĩ nay khám từ thiện cho phường này, mai khám cho phường khác. Được một thời gian, bà nghĩ hội có đến 5, 6 bác sĩ, tại sao không tổ chức phòng khám cho nhân dân? Nghĩ là làm, bà đứng ra tổ chức phòng khám từ thiện và mời các bác sĩ trong Hội Chữ thập đỏ của quận cùng tham gia. Hồi đó, nhà cửa quá khó khăn, trong vòng mấy năm, phòng khám phải di chuyển 7 lần. Sau đó, thấy công việc của bà rất hữu ích nên UBND phường Giáp Bát, lúc đó còn thuộc quận Hai Bà Trưng, cho mượn một phòng và Hội Chữ thập đỏ của phường xem cơ sở của bà như một đơn vị trực thuộc. Khó khăn nhất là đội ngũ thầy thuốc. Các bác sĩ làm việc cho phòng khám đều có kinh nghiệm, được nhiều nơi mời mọc với ưu đãi cao. Nhưng được sự động viên của bà Hội Tố, họ đều tự nguyện làm việc từ thiện vì bà con nghèo. Gần 25 năm qua, phòng khám đã có 6 bác sĩ tự nguyện, nhưng tuổi cao, sức yếu, người thì mất, người phải nghỉ vì đau ốm, đến nay vẫn còn bác sĩ quân y về hưu Nguyễn Văn Đức, 77 tuổi và y tá Lê Thị Sóc, 86 tuổi làm việc với bà. Phòng khám mở cửa thứ hai và thứ năm hằng tuần, các bác sĩ thay nhau túc trực.

- Chúng tôi chỉ khám và tư vấn sức khỏe cho bà con, không kê đơn thuốc cho một ai. Người bệnh đến với chúng tôi, sau khi được khám, họ đưa đơn thuốc của các bệnh viện hỏi chúng tôi cách uống thuốc như thế nào, thuốc hết hạn sử dụng chưa? Hoặc đưa các phiếu xét nghiệm nhờ chúng tôi “đọc” giùm. Bà con lớn tuổi thấy đau đầu, đến nhờ chúng tôi khám xem có phải do cao huyết áp hay không… Những người bệnh nhẹ, chúng tôi động viên họ, tư vấn cách điều trị, còn bệnh nặng thì khuyên nên đến bệnh viện. Chức năng của chúng tôi là khám và tư vấn, không kê đơn thuốc.

Phòng khám và tư vấn miễn phí phường Giáp Bát luôn luôn đông khách. Bà Hội Tố tính rằng, trung bình mỗi tháng có hơn 100 bệnh nhân đến nơi đây, và cứ thế suốt 25 năm qua, bà không thể tính được phòng khám đã giúp đỡ bao nhiêu người. Bà nhớ nhất chị Đặng Thị Nhàn ở tổ 15, phường Giáp Bát. Chị Nhàn nghề nghiệp không ổn định, chồng là công nhân thường xuyên ốm đau, có đứa con không may bị bại não từ nhỏ. Các bác sĩ của phòng khám thường xuyên đến tận nhà khám cho hai bố con, có thuốc gì tốt đều dành cho nhà chị. Người nghèo, kể cả người có điều kiện sống cao thích đến đây để được sẻ chia, đồng cảm trong sự ấm áp của tấm lòng các bác sĩ.

- Có bà đến nhờ chúng tôi đo huyết áp cả hai tay xem có bằng nhau không-bà Hội Tố cười-để yên lòng bệnh nhân, tôi vừa làm vừa nhịn cười, nghĩ, không biết phòng khám ở các bệnh viện đã có trường hợp như thế này chưa? Nhiều bà con còn nghèo khổ, hiểu biết hạn chế, mình là bác sĩ phải làm sao cho họ yên lòng rồi từ từ giải thích, chứ quở trách họ thì còn gì là lương y nữa.

Hình ảnh các bác sĩ tóc bạc trắng tận tình, cặn kẽ chỉ dẫn cho người bệnh đã làm xúc động nhiều người. Tiếng lành đồn xa, giờ đây không chỉ bà con ở phường Giáp Bát, mà ở nơi xa khác cũng đến phòng khám, có người còn tặng thuốc men để giúp những người nghèo hơn. Bà Nguyễn Thị Trung, 83 tuổi ở phường Quỳnh Lôi, quận Hai Bà Trưng thường xuyên đến tặng thuốc, vận động con cái ủng hộ phòng khám 2 triệu đồng. Bà Đỗ Thị Minh Tân ở tổ 17, phường Giáp Bát thường tặng thuốc B1. Gặp chúng tôi, bà Tạ Thị Nhâm ở phường Giáp Bát, người đã 20 năm nay thường xuyên đến phòng khám này tự hào: Bà Hội Tố và các thầy thuốc ở đây như những vị “Bồ Tát sống”.

Tấm lòng nhân hậu của bà Trương Thị Hội Tố lay động, lôi cuốn nhiều người làm việc thiện, trong đó có những người con thành đạt của bà. Con trai đầu, Đại tá Vũ Hội An, nguyên Phó chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Phòng không-Không quân và vợ thường giúp mẹ và hội viên Hội Chữ thập đỏ phường quyên góp, đi thăm các cháu bệnh nhân ở Bệnh viện K, tặng bò cho bà con hai xã nghèo ở Ba Vì. Kỹ sư Vũ Thị Hội Trường, con gái út của bà, từng nuôi một bé trai có hoàn cảnh khó khăn từ lớp 2 cho đến khi vào đại học, nay tiếp tục đỡ đầu một cháu gái đang học lớp 10 có bố chết do tai nạn lao động.

Ra về, tôi nhớ mãi lời của bà Hội Tố: “Tôi ước ao mỗi phường ở Hà Nội có một phòng khám và tư vấn miễn phí. Như vậy đỡ khổ cho bà con và giảm phần nào cho các bệnh viện đang quá tải”. Tôi nghĩ, phải chăng nỗi đau của người vợ liệt sĩ đã biến thành nghị lực phi thường và niềm yêu thương con người để bà được mọi người yêu quý gọi là vị Bồ Tát giữa đời thường.

HỒNG SƠN

Vợ chồng Vũ Quang Bình-Trương Thị Hội Tố hồi trẻ.

Bác sĩ Hội Tố (đeo kính) và đồng nghiệp khám, tư vấn cho bệnh nhân. Ảnh do nhân vật cung cấp


Người vợ hai liệt sĩ có tấm long Bồ Tát

QĐND - Giữa mùa hè nắng như đổ lửa xuống Thủ đô, cứ đều đặn thứ hai hằng tuần, người ta lại thấy cụ bà 84 tuổi lặng lẽ bắt xe ôm từ nhà riêng ở đường Nguyễn Viết Xuân, phường Khương Mai, quận Thanh Xuân đến phòng khám tư vấn miễn phí tại phường Giáp Bát, quận Hoàng Mai. Ở nơi đó, rất nhiều bà con chờ bà khám và tư vấn về sức khỏe.

Bà là bác sĩ Trương Thị Hội Tố.

Với khuôn mặt phúc hậu, nụ cười thường trực trên môi và kinh nghiệm của một thầy thuốc lão thành, 25 năm qua bà làm yên lòng biết bao gia đình có người thân ốm đau, bệnh tật. Nhưng mấy ai biết rằng, con người nhân hậu ấy từng hai lần vượt qua nỗi đau của người vợ liệt sĩ.

Năm 1952, người con gái quê gốc Hà Tĩnh Trương Thị Hội Tố sau khi tốt nghiệp Trường nữ hộ sinh Liên khu 3-4 thành hôn với chàng trai tuổi trẻ tài cao Nguyễn Xuân, Trung đoàn phó Trung đoàn 64 của Đại đoàn 320 danh tiếng. Nguyễn Xuân quê Hà Nội, học Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 1, là một trong những cán bộ trung đoàn trẻ nhất toàn quân hồi bấy giờ. Cưới xong, Hội Tố về Sơn Tây công tác, còn Nguyễn Xuân tiếp tục cùng đơn vị hành quân chiến đấu. Hương lửa tình yêu đang nồng thì 13 tháng sau ngày cưới, ngày 31-10-1953, người trung đoàn phó trẻ tuổi đã anh dũng hy sinh trong trận Tây Nam Ninh Bình.

- Ai cũng tiếc cho anh Xuân, tuy còn trẻ tuổi nhưng sớm bộc lộ tài năng của người chỉ huy. Anh ấy to cao nhưng nói năng rất nhẹ nhàng với mọi người, lại rất thương vợ-giờ đây, ngồi kể chuyện với tôi, bà Hội Tố vừa thương vừa tự hào về người chồng đầu tiên của mình.

Nỗi đau mất chồng tạm nguôi ngoai, đến năm 1957, qua giới thiệu của bạn bè, Hội Tố quen biết Vũ Quang Bình, vốn là bạn chiến đấu với Nguyễn Xuân ở Sư đoàn 320, đang là học viên Trường Chính trị trung cao cấp (nay là Học viện Chính trị). Người cán bộ quê Hải Phòng này có vợ hoạt động cách mạng bị Pháp bắt tù đày, tra tấn dã man nên đã mất. Đồng cảnh ngộ, cùng chí hướng, hai người đã đến với nhau.

- Sau khi cưới, tôi tốt nghiệp Trường Đại học Y Hà Nội, được phân công về Yên Bái công tác. Ở đó được 4 năm thì tôi chuyển về Khoa Sản của Bệnh viện Hà Nam. Tuy lúc đó đế quốc Mỹ chưa ném bom miền Bắc nhưng do điều kiện công việc nên thời gian ở bên nhau của chúng tôi cũng chẳng được bao nhiêu-bà Hội Tố kể.

Vừa kịp sinh cho chồng hai đứa con trai thì giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc. Năm 1965, từ Sư đoàn 308, Vũ Quang Bình được điều động về công tác trên tuyến lửa của Đường 20 Quyết Thắng ở Quảng Bình, sau đó là Phó chính ủy của Sư đoàn 470 thuộc Bộ tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, rồi phụ trách Chính ủy Sư đoàn 968 đóng quân bên nước bạn Lào. Một mình bà vừa làm việc vừa nuôi con ở Phủ Lý, “túi bom” miền Bắc lúc bấy giờ bởi đó là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội. Đường Trường Sơn dài dằng dặc, Mỹ đánh phá ác liệt nên ông Vũ Quang Bình rất ít khi về nhà. Bà nhớ, lần cuối cùng ông về là năm 1971, khi cô con gái thứ ba Vũ Thị Hội Trường mới một tuổi. Lần đó, ông có viết cho con gái một bức thư rồi đưa cho bà, cười bảo: “Mình cất thư này, nếu tôi có mệnh hệ gì thì khi con 15 tuổi hãy đưa cho nó đọc”. Không ngờ, lời của ông nghiệm vào sự thật.

Ngày 4-4-1973, nghĩa là khi sau Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết vài tháng, chiếc xe chở Chính ủy Bộ đội Trường Sơn Đặng Tính, phụ trách Chính ủy Sư đoàn 968 Vũ Quang Bình đi công tác bất ngờ trúng mìn chống tăng của địch cài lại, cả 6 người trên xe hy sinh. Vài ngày sau đó, Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 470 Nguyễn Đức Phương về đón bà “vào thăm anh Bình chuẩn bị đi công tác”. Ngày 7-4, vào đến gần bến phà Long Đại (Quảng Bình), ông Phương mới cho biết chồng bà đã hy sinh và được mai táng ở đây.

- Tôi đau đớn đến ngất xỉu và từ đó cho đến khi trở về Trường Trung cấp Y tế Nam Định, nơi tôi dạy học, người tôi mụ đi, không biết gì. Thương anh ấy quá, cả đời trận mạc nơi khó khăn, gian khổ nhất, ngày hòa bình đang đến gần lại vĩnh viễn bỏ tôi và các con ra đi. Thương cho 3 đứa con nhỏ của tôi giờ đây không còn bố, nơi nương tựa và niềm tự hào của chúng. Càng nghĩ, tôi càng đau đớn… Nhưng rồi, phải gắng sống để nuôi các con nên người.

Người mẹ ấy đã âm thầm chịu đựng khổ đau để vừa nuôi con, vừa phấn đấu trong sự đùm bọc, thương yêu, cảm phục của bạn bè và đồng nghiệp. Năm 1986, khi 2 con trai đã trưởng thành đang học tập ở nước ngoài, con gái út đã học cấp 3, bà Hội Tố sang Ăng-gô-la làm chuyên gia y tế, đến năm 1991 mới trở về nước, tiếp tục giữ chức vụ Phó hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Nam Định.

Năm 1992, nghỉ hưu, bà về Hà Nội sống với con ở đường Trương Định, quận Hai Bà Trưng. Tham gia Hội Chữ thập đỏ của quận, bà cùng một số bác sĩ nay khám từ thiện cho phường này, mai khám cho phường khác. Được một thời gian, bà nghĩ hội có đến 5, 6 bác sĩ, tại sao không tổ chức phòng khám cho nhân dân? Nghĩ là làm, bà đứng ra tổ chức phòng khám từ thiện và mời các bác sĩ trong Hội Chữ thập đỏ của quận cùng tham gia. Hồi đó, nhà cửa quá khó khăn, trong vòng mấy năm, phòng khám phải di chuyển 7 lần. Sau đó, thấy công việc của bà rất hữu ích nên UBND phường Giáp Bát, lúc đó còn thuộc quận Hai Bà Trưng, cho mượn một phòng và Hội Chữ thập đỏ của phường xem cơ sở của bà như một đơn vị trực thuộc. Khó khăn nhất là đội ngũ thầy thuốc. Các bác sĩ làm việc cho phòng khám đều có kinh nghiệm, được nhiều nơi mời mọc với ưu đãi cao. Nhưng được sự động viên của bà Hội Tố, họ đều tự nguyện làm việc từ thiện vì bà con nghèo. Gần 25 năm qua, phòng khám đã có 6 bác sĩ tự nguyện, nhưng tuổi cao, sức yếu, người thì mất, người phải nghỉ vì đau ốm, đến nay vẫn còn bác sĩ quân y về hưu Nguyễn Văn Đức, 77 tuổi và y tá Lê Thị Sóc, 86 tuổi làm việc với bà. Phòng khám mở cửa thứ hai và thứ năm hằng tuần, các bác sĩ thay nhau túc trực.

- Chúng tôi chỉ khám và tư vấn sức khỏe cho bà con, không kê đơn thuốc cho một ai. Người bệnh đến với chúng tôi, sau khi được khám, họ đưa đơn thuốc của các bệnh viện hỏi chúng tôi cách uống thuốc như thế nào, thuốc hết hạn sử dụng chưa? Hoặc đưa các phiếu xét nghiệm nhờ chúng tôi “đọc” giùm. Bà con lớn tuổi thấy đau đầu, đến nhờ chúng tôi khám xem có phải do cao huyết áp hay không… Những người bệnh nhẹ, chúng tôi động viên họ, tư vấn cách điều trị, còn bệnh nặng thì khuyên nên đến bệnh viện. Chức năng của chúng tôi là khám và tư vấn, không kê đơn thuốc.

Phòng khám và tư vấn miễn phí phường Giáp Bát luôn luôn đông khách. Bà Hội Tố tính rằng, trung bình mỗi tháng có hơn 100 bệnh nhân đến nơi đây, và cứ thế suốt 25 năm qua, bà không thể tính được phòng khám đã giúp đỡ bao nhiêu người. Bà nhớ nhất chị Đặng Thị Nhàn ở tổ 15, phường Giáp Bát. Chị Nhàn nghề nghiệp không ổn định, chồng là công nhân thường xuyên ốm đau, có đứa con không may bị bại não từ nhỏ. Các bác sĩ của phòng khám thường xuyên đến tận nhà khám cho hai bố con, có thuốc gì tốt đều dành cho nhà chị. Người nghèo, kể cả người có điều kiện sống cao thích đến đây để được sẻ chia, đồng cảm trong sự ấm áp của tấm lòng các bác sĩ.

- Có bà đến nhờ chúng tôi đo huyết áp cả hai tay xem có bằng nhau không-bà Hội Tố cười-để yên lòng bệnh nhân, tôi vừa làm vừa nhịn cười, nghĩ, không biết phòng khám ở các bệnh viện đã có trường hợp như thế này chưa? Nhiều bà con còn nghèo khổ, hiểu biết hạn chế, mình là bác sĩ phải làm sao cho họ yên lòng rồi từ từ giải thích, chứ quở trách họ thì còn gì là lương y nữa.

Hình ảnh các bác sĩ tóc bạc trắng tận tình, cặn kẽ chỉ dẫn cho người bệnh đã làm xúc động nhiều người. Tiếng lành đồn xa, giờ đây không chỉ bà con ở phường Giáp Bát, mà ở nơi xa khác cũng đến phòng khám, có người còn tặng thuốc men để giúp những người nghèo hơn. Bà Nguyễn Thị Trung, 83 tuổi ở phường Quỳnh Lôi, quận Hai Bà Trưng thường xuyên đến tặng thuốc, vận động con cái ủng hộ phòng khám 2 triệu đồng. Bà Đỗ Thị Minh Tân ở tổ 17, phường Giáp Bát thường tặng thuốc B1. Gặp chúng tôi, bà Tạ Thị Nhâm ở phường Giáp Bát, người đã 20 năm nay thường xuyên đến phòng khám này tự hào: Bà Hội Tố và các thầy thuốc ở đây như những vị “Bồ Tát sống”.

Tấm lòng nhân hậu của bà Trương Thị Hội Tố lay động, lôi cuốn nhiều người làm việc thiện, trong đó có những người con thành đạt của bà. Con trai đầu, Đại tá Vũ Hội An, nguyên Phó chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Phòng không-Không quân và vợ thường giúp mẹ và hội viên Hội Chữ thập đỏ phường quyên góp, đi thăm các cháu bệnh nhân ở Bệnh viện K, tặng bò cho bà con hai xã nghèo ở Ba Vì. Kỹ sư Vũ Thị Hội Trường, con gái út của bà, từng nuôi một bé trai có hoàn cảnh khó khăn từ lớp 2 cho đến khi vào đại học, nay tiếp tục đỡ đầu một cháu gái đang học lớp 10 có bố chết do tai nạn lao động.

Ra về, tôi nhớ mãi lời của bà Hội Tố: “Tôi ước ao mỗi phường ở Hà Nội có một phòng khám và tư vấn miễn phí. Như vậy đỡ khổ cho bà con và giảm phần nào cho các bệnh viện đang quá tải”. Tôi nghĩ, phải chăng nỗi đau của người vợ liệt sĩ đã biến thành nghị lực phi thường và niềm yêu thương con người để bà được mọi người yêu quý gọi là vị Bồ Tát giữa đời thường.

HỒNG SƠN

Vợ chồng Vũ Quang Bình-Trương Thị Hội Tố hồi trẻ.

Bác sĩ Hội Tố (đeo kính) và đồng nghiệp khám, tư vấn cho bệnh nhân. Ảnh do nhân vật cung cấp


Người vợ hai liệt sĩ có tấm long Bồ Tát

QĐND - Giữa mùa hè nắng như đổ lửa xuống Thủ đô, cứ đều đặn thứ hai hằng tuần, người ta lại thấy cụ bà 84 tuổi lặng lẽ bắt xe ôm từ nhà riêng ở đường Nguyễn Viết Xuân, phường Khương Mai, quận Thanh Xuân đến phòng khám tư vấn miễn phí tại phường Giáp Bát, quận Hoàng Mai. Ở nơi đó, rất nhiều bà con chờ bà khám và tư vấn về sức khỏe.

Bà là bác sĩ Trương Thị Hội Tố.

Với khuôn mặt phúc hậu, nụ cười thường trực trên môi và kinh nghiệm của một thầy thuốc lão thành, 25 năm qua bà làm yên lòng biết bao gia đình có người thân ốm đau, bệnh tật. Nhưng mấy ai biết rằng, con người nhân hậu ấy từng hai lần vượt qua nỗi đau của người vợ liệt sĩ.

Năm 1952, người con gái quê gốc Hà Tĩnh Trương Thị Hội Tố sau khi tốt nghiệp Trường nữ hộ sinh Liên khu 3-4 thành hôn với chàng trai tuổi trẻ tài cao Nguyễn Xuân, Trung đoàn phó Trung đoàn 64 của Đại đoàn 320 danh tiếng. Nguyễn Xuân quê Hà Nội, học Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 1, là một trong những cán bộ trung đoàn trẻ nhất toàn quân hồi bấy giờ. Cưới xong, Hội Tố về Sơn Tây công tác, còn Nguyễn Xuân tiếp tục cùng đơn vị hành quân chiến đấu. Hương lửa tình yêu đang nồng thì 13 tháng sau ngày cưới, ngày 31-10-1953, người trung đoàn phó trẻ tuổi đã anh dũng hy sinh trong trận Tây Nam Ninh Bình.

- Ai cũng tiếc cho anh Xuân, tuy còn trẻ tuổi nhưng sớm bộc lộ tài năng của người chỉ huy. Anh ấy to cao nhưng nói năng rất nhẹ nhàng với mọi người, lại rất thương vợ-giờ đây, ngồi kể chuyện với tôi, bà Hội Tố vừa thương vừa tự hào về người chồng đầu tiên của mình.

Nỗi đau mất chồng tạm nguôi ngoai, đến năm 1957, qua giới thiệu của bạn bè, Hội Tố quen biết Vũ Quang Bình, vốn là bạn chiến đấu với Nguyễn Xuân ở Sư đoàn 320, đang là học viên Trường Chính trị trung cao cấp (nay là Học viện Chính trị). Người cán bộ quê Hải Phòng này có vợ hoạt động cách mạng bị Pháp bắt tù đày, tra tấn dã man nên đã mất. Đồng cảnh ngộ, cùng chí hướng, hai người đã đến với nhau.

- Sau khi cưới, tôi tốt nghiệp Trường Đại học Y Hà Nội, được phân công về Yên Bái công tác. Ở đó được 4 năm thì tôi chuyển về Khoa Sản của Bệnh viện Hà Nam. Tuy lúc đó đế quốc Mỹ chưa ném bom miền Bắc nhưng do điều kiện công việc nên thời gian ở bên nhau của chúng tôi cũng chẳng được bao nhiêu-bà Hội Tố kể.

Vừa kịp sinh cho chồng hai đứa con trai thì giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc. Năm 1965, từ Sư đoàn 308, Vũ Quang Bình được điều động về công tác trên tuyến lửa của Đường 20 Quyết Thắng ở Quảng Bình, sau đó là Phó chính ủy của Sư đoàn 470 thuộc Bộ tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, rồi phụ trách Chính ủy Sư đoàn 968 đóng quân bên nước bạn Lào. Một mình bà vừa làm việc vừa nuôi con ở Phủ Lý, “túi bom” miền Bắc lúc bấy giờ bởi đó là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội. Đường Trường Sơn dài dằng dặc, Mỹ đánh phá ác liệt nên ông Vũ Quang Bình rất ít khi về nhà. Bà nhớ, lần cuối cùng ông về là năm 1971, khi cô con gái thứ ba Vũ Thị Hội Trường mới một tuổi. Lần đó, ông có viết cho con gái một bức thư rồi đưa cho bà, cười bảo: “Mình cất thư này, nếu tôi có mệnh hệ gì thì khi con 15 tuổi hãy đưa cho nó đọc”. Không ngờ, lời của ông nghiệm vào sự thật.

Ngày 4-4-1973, nghĩa là khi sau Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết vài tháng, chiếc xe chở Chính ủy Bộ đội Trường Sơn Đặng Tính, phụ trách Chính ủy Sư đoàn 968 Vũ Quang Bình đi công tác bất ngờ trúng mìn chống tăng của địch cài lại, cả 6 người trên xe hy sinh. Vài ngày sau đó, Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 470 Nguyễn Đức Phương về đón bà “vào thăm anh Bình chuẩn bị đi công tác”. Ngày 7-4, vào đến gần bến phà Long Đại (Quảng Bình), ông Phương mới cho biết chồng bà đã hy sinh và được mai táng ở đây.

- Tôi đau đớn đến ngất xỉu và từ đó cho đến khi trở về Trường Trung cấp Y tế Nam Định, nơi tôi dạy học, người tôi mụ đi, không biết gì. Thương anh ấy quá, cả đời trận mạc nơi khó khăn, gian khổ nhất, ngày hòa bình đang đến gần lại vĩnh viễn bỏ tôi và các con ra đi. Thương cho 3 đứa con nhỏ của tôi giờ đây không còn bố, nơi nương tựa và niềm tự hào của chúng. Càng nghĩ, tôi càng đau đớn… Nhưng rồi, phải gắng sống để nuôi các con nên người.

Người mẹ ấy đã âm thầm chịu đựng khổ đau để vừa nuôi con, vừa phấn đấu trong sự đùm bọc, thương yêu, cảm phục của bạn bè và đồng nghiệp. Năm 1986, khi 2 con trai đã trưởng thành đang học tập ở nước ngoài, con gái út đã học cấp 3, bà Hội Tố sang Ăng-gô-la làm chuyên gia y tế, đến năm 1991 mới trở về nước, tiếp tục giữ chức vụ Phó hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Nam Định.

Năm 1992, nghỉ hưu, bà về Hà Nội sống với con ở đường Trương Định, quận Hai Bà Trưng. Tham gia Hội Chữ thập đỏ của quận, bà cùng một số bác sĩ nay khám từ thiện cho phường này, mai khám cho phường khác. Được một thời gian, bà nghĩ hội có đến 5, 6 bác sĩ, tại sao không tổ chức phòng khám cho nhân dân? Nghĩ là làm, bà đứng ra tổ chức phòng khám từ thiện và mời các bác sĩ trong Hội Chữ thập đỏ của quận cùng tham gia. Hồi đó, nhà cửa quá khó khăn, trong vòng mấy năm, phòng khám phải di chuyển 7 lần. Sau đó, thấy công việc của bà rất hữu ích nên UBND phường Giáp Bát, lúc đó còn thuộc quận Hai Bà Trưng, cho mượn một phòng và Hội Chữ thập đỏ của phường xem cơ sở của bà như một đơn vị trực thuộc. Khó khăn nhất là đội ngũ thầy thuốc. Các bác sĩ làm việc cho phòng khám đều có kinh nghiệm, được nhiều nơi mời mọc với ưu đãi cao. Nhưng được sự động viên của bà Hội Tố, họ đều tự nguyện làm việc từ thiện vì bà con nghèo. Gần 25 năm qua, phòng khám đã có 6 bác sĩ tự nguyện, nhưng tuổi cao, sức yếu, người thì mất, người phải nghỉ vì đau ốm, đến nay vẫn còn bác sĩ quân y về hưu Nguyễn Văn Đức, 77 tuổi và y tá Lê Thị Sóc, 86 tuổi làm việc với bà. Phòng khám mở cửa thứ hai và thứ năm hằng tuần, các bác sĩ thay nhau túc trực.

- Chúng tôi chỉ khám và tư vấn sức khỏe cho bà con, không kê đơn thuốc cho một ai. Người bệnh đến với chúng tôi, sau khi được khám, họ đưa đơn thuốc của các bệnh viện hỏi chúng tôi cách uống thuốc như thế nào, thuốc hết hạn sử dụng chưa? Hoặc đưa các phiếu xét nghiệm nhờ chúng tôi “đọc” giùm. Bà con lớn tuổi thấy đau đầu, đến nhờ chúng tôi khám xem có phải do cao huyết áp hay không… Những người bệnh nhẹ, chúng tôi động viên họ, tư vấn cách điều trị, còn bệnh nặng thì khuyên nên đến bệnh viện. Chức năng của chúng tôi là khám và tư vấn, không kê đơn thuốc.

Phòng khám và tư vấn miễn phí phường Giáp Bát luôn luôn đông khách. Bà Hội Tố tính rằng, trung bình mỗi tháng có hơn 100 bệnh nhân đến nơi đây, và cứ thế suốt 25 năm qua, bà không thể tính được phòng khám đã giúp đỡ bao nhiêu người. Bà nhớ nhất chị Đặng Thị Nhàn ở tổ 15, phường Giáp Bát. Chị Nhàn nghề nghiệp không ổn định, chồng là công nhân thường xuyên ốm đau, có đứa con không may bị bại não từ nhỏ. Các bác sĩ của phòng khám thường xuyên đến tận nhà khám cho hai bố con, có thuốc gì tốt đều dành cho nhà chị. Người nghèo, kể cả người có điều kiện sống cao thích đến đây để được sẻ chia, đồng cảm trong sự ấm áp của tấm lòng các bác sĩ.

- Có bà đến nhờ chúng tôi đo huyết áp cả hai tay xem có bằng nhau không-bà Hội Tố cười-để yên lòng bệnh nhân, tôi vừa làm vừa nhịn cười, nghĩ, không biết phòng khám ở các bệnh viện đã có trường hợp như thế này chưa? Nhiều bà con còn nghèo khổ, hiểu biết hạn chế, mình là bác sĩ phải làm sao cho họ yên lòng rồi từ từ giải thích, chứ quở trách họ thì còn gì là lương y nữa.

Hình ảnh các bác sĩ tóc bạc trắng tận tình, cặn kẽ chỉ dẫn cho người bệnh đã làm xúc động nhiều người. Tiếng lành đồn xa, giờ đây không chỉ bà con ở phường Giáp Bát, mà ở nơi xa khác cũng đến phòng khám, có người còn tặng thuốc men để giúp những người nghèo hơn. Bà Nguyễn Thị Trung, 83 tuổi ở phường Quỳnh Lôi, quận Hai Bà Trưng thường xuyên đến tặng thuốc, vận động con cái ủng hộ phòng khám 2 triệu đồng. Bà Đỗ Thị Minh Tân ở tổ 17, phường Giáp Bát thường tặng thuốc B1. Gặp chúng tôi, bà Tạ Thị Nhâm ở phường Giáp Bát, người đã 20 năm nay thường xuyên đến phòng khám này tự hào: Bà Hội Tố và các thầy thuốc ở đây như những vị “Bồ Tát sống”.

Tấm lòng nhân hậu của bà Trương Thị Hội Tố lay động, lôi cuốn nhiều người làm việc thiện, trong đó có những người con thành đạt của bà. Con trai đầu, Đại tá Vũ Hội An, nguyên Phó chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Phòng không-Không quân và vợ thường giúp mẹ và hội viên Hội Chữ thập đỏ phường quyên góp, đi thăm các cháu bệnh nhân ở Bệnh viện K, tặng bò cho bà con hai xã nghèo ở Ba Vì. Kỹ sư Vũ Thị Hội Trường, con gái út của bà, từng nuôi một bé trai có hoàn cảnh khó khăn từ lớp 2 cho đến khi vào đại học, nay tiếp tục đỡ đầu một cháu gái đang học lớp 10 có bố chết do tai nạn lao động.

Ra về, tôi nhớ mãi lời của bà Hội Tố: “Tôi ước ao mỗi phường ở Hà Nội có một phòng khám và tư vấn miễn phí. Như vậy đỡ khổ cho bà con và giảm phần nào cho các bệnh viện đang quá tải”. Tôi nghĩ, phải chăng nỗi đau của người vợ liệt sĩ đã biến thành nghị lực phi thường và niềm yêu thương con người để bà được mọi người yêu quý gọi là vị Bồ Tát giữa đời thường.

HỒNG SƠN

Vợ chồng Vũ Quang Bình-Trương Thị Hội Tố hồi trẻ.

Bác sĩ Hội Tố (đeo kính) và đồng nghiệp khám, tư vấn cho bệnh nhân. Ảnh do nhân vật cung cấp