- Ông lên đó với anh em chứ, tôi cõng!

- Thôi ông ạ, chỗ này bậc thang cao lắm. Ông cứ lên đi, tôi ngồi đây thưởng thức qua loa cũng được…

Vô tình nghe được cuộc đối thoại của hai CCB trước bậc thềm dẫn lên hội trường sẽ diễn ra buổi lễ gặp mặt truyền thống của các CCB Sư đoàn Ô tô vận tải 571, Bộ tư lệnh Trường Sơn trung tuần tháng 7 vừa qua đã níu bước chân chúng tôi. Ngoảnh lại nhìn, không khỏi bất ngờ: Người đề nghị cõng bạn là một CCB dáng người nhỏ nhắn, người còn lại có thân hình “quá khổ” đang ngồi trên xe lăn…

Trước ánh mắt không giấu nổi vẻ nghi ngại của chúng tôi, CCB Phạm Văn Tuấn-người ngồi trên xe lăn-hiện sinh sống tại phường Lam Sơn, quận Lê Chân, TP Hải Phòng cười hồn hậu: “Các cậu chớ coi thường hắn nhỏ con, lâu nay nhờ có hắn cõng mà tôi mới có thể lên xuống chiếc xe lăn này để đi khắp nơi kiếm tìm đồng đội đấy!”. Và ông bắt đầu kể về cuộc đời mình…

leftcenterrightdel
Cựu chiến binh Phạm Văn Tuấn (ngồi xe lăn) và vợ chồng cựu chiến binh Bình-Lý trong ngày gặp mặt truyền thống đơn vị. Ảnh: TUẤN TÚ

Sinh ra và lớn lên ở TP Hoa Phượng đỏ, năm 1972, 18 tuổi, đang học chuyên ngành chế tạo máy tại Trường Đại học Bách khoa thì có lệnh tổng động viên. Vậy là tạm xếp bút nghiên, chàng sinh viên năm thứ nhất Phạm Văn Tuấn lên đường nhập ngũ. Sau 3 tháng huấn luyện tại Trung đoàn Bộ binh 5 đóng quân tại Yên Tử, do có thể chất tốt, anh được chọn đi đào tạo lái xe. Tháng 8-1972, anh chính thức trở thành chiến sĩ lái xe của Tiểu đoàn 101, Trung đoàn 13. Khi Sư đoàn Ô tô vận tải 571 thành lập ngày 12-7-1973, Trung đoàn 13 được bố trí nằm trong đội hình sư đoàn. Từ đó, trên chiếc xe Zil 130, Phạm Văn Tuấn cùng đồng đội rong ruổi trên khắp các tuyến đường Trường Sơn. Bắt đầu nhận hàng từ binh trạm đặt tại Quảng Bình, anh nhận nhiệm vụ chở hàng, bộ đội vào chi viện cho chiến trường rồi lại đón thương binh, bệnh binh chuyển ra tuyến sau. Khắp Trường Sơn, đặc biệt là những trọng điểm đánh phá ác liệt của địch như ATP, Khe Tang, ngã ba Lùm Bùm, Đường 20-Quyết Thắng… đều ghi dấu xe của Tuấn. “Gần 4 năm ở Trường Sơn, tôi không nhớ nổi đã đi được bao nhiêu ki-lô-mét đường, vượt bao nhiêu lần bom địch giội xuống. Kỷ niệm nhiều lắm, các cậu hỏi ngay lúc này tôi không biết bắt đầu từ đâu. Nhưng chắc chắn, tình đồng đội, tình đồng chí sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi, thậm chí là hy sinh cho nhau là tôi không sao quên được”-CCB Phạm Văn Tuấn nói.

Ngày ấy, ở Trường Sơn, tuổi còn trẻ lại tràn đầy nhiệt huyết cống hiến, Tuấn luôn đi đầu nhận các nhiệm vụ khó về mình. Không ít chuyến đi, bom đánh đúng đội hình, xe của Tuấn bị hỏng nặng, bản thân cũng bị sức ép của bom, nhưng anh vẫn trấn an đồng đội để cùng nhau cứu hàng, cứu người. Những lần Tiểu đoàn 101 hoàn thành nhiệm vụ, được cấp trên biểu dương đều có phần đóng góp không nhỏ của Tuấn. CCB Nguyễn Văn Liên-là người đề nghị được cõng CCB Phạm Văn Tuấn lên hội 

trường-kể: Tôi người Hải Dương, “hắn” Hải Phòng, cũng coi là đồng hương Quân khu 3 (cười). Tôi vào chiến trường hồi đầu năm 1975, sau “hắn” hơn 2 năm, lính mới nên được “hắn” giúp đỡ nhiều. Nhớ nhất là trận sốt rét ác tính hồi tháng 2-1975, “hắn” ngồi trực chăm sóc tôi cả đêm. Hôm sau mệt lừ nhưng “hắn” vẫn nhận nhiệm vụ giúp tôi đưa hàng nhập tuyến, lại hoàn thành vượt kế hoạch mới cừ chứ”.

Có lẽ được nhiều bạn bè quý mến bởi tính cách đôn hậu và nhiệt tình nên cuộc trò chuyện với chúng tôi liên tục bị ngắt quãng vì rất nhiều đồng đội đến chào, hỏi thăm sức khỏe và động viên CCB Phạm Văn Tuấn. Nụ cười lúc nào cũng thường trực trên môi, ông vui vẻ đáp lại mọi lời hỏi thăm. Nhưng tinh ý có thể thấy, đằng sau nụ cười ấy là ánh mắt ẩn chứa nỗi niềm. Bởi chàng trai hừng hực sức trẻ năm xưa giờ đây là thương binh hạng 1/4 do “sức ép bom đỉnh đầu, chấn thương cột sống từ D4 đến D6, hai chân hạn chế vận động, teo cơ”. Chuyện xảy ra vào tháng 1-1979, khi trung đội xe của ông làm nhiệm vụ vận tải hàng chi viện cho các lực lượng đang tham gia giải phóng nước bạn Campuchia khỏi họa diệt chủng. CCB Phạm Văn Tuấn kể: “Năm 1975, sau khi hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển bộ đội chi viện cho trận đánh lớn đến tận cửa ngõ Sài Gòn, chúng tôi tiếp tục tăng viện cho các đơn vị khi có lệnh. Tháng 1-1979, tôi nhận lệnh chở hàng sang Xiêm Riệp (Campuchia). Trên đường hành quân, đoàn xe trúng mìn của địch gài sẵn. Do sức ép, tôi bị kẹt rồi ngất lịm trong xe. Được đồng đội cấp cứu, khi tôi tỉnh lại đã là mấy tháng sau”.

Nhắc lại chuyện xưa, CCB Phạm Văn Tuấn không giấu nổi xúc động. Chuyến đi ấy, cả đội hình chỉ mỗi ông còn sống. Nằm điều trị tại Viện 5, Sơn Tây, mỗi lần bạn bè đến thăm hỏi, ông không nói được gì, chỉ úp mặt vào tường khóc thầm. Khóc vì những đồng đội đã khuất và xót mình còn sống nhưng phải mang thương tật vĩnh viễn, cuộc sống sau này phải lệ thuộc người khác. Sự bi quan đeo đẳng ông bao nhiêu tháng ngày. Cuối cùng ông quyết định đề nghị cấp trên cho về quê nhà sinh sống.

Giữa tình thương của người thân và chòm xóm, nỗi buồn cũng nguôi ngoai. Do mặc cảm bệnh tật, mặc dù không ít cô gái yêu thương thật lòng, bày tỏ nguyện vọng được gắn bó lâu dài nhưng ông nhất mực từ chối. “Mình đã thế này, đi lại khó khăn. Những khi trái gió trở trời, đầu đau như búa bổ, trái tính trái nết, ở với nhau chỉ làm khổ người ta”-ông tâm sự.

Vậy là từ đó đến nay, chiến sĩ lái xe Phạm Văn Tuấn vẫn sống một mình. Nhiều năm qua, với đồng lương trợ cấp thương tật hằng tháng, trên chiếc xe thương binh, ông đi khắp nơi những mong tìm gặp và kết nối càng nhiều đồng đội càng tốt. Gặp ai khó khăn, ông dang tay giúp đỡ ít nhiều. Nếu không đủ, ông lại tìm cách vận động các nhà hảo tâm và đồng đội có điều kiện hơn cùng san sẻ. Cách đây 3 năm, qua nhiều lần hỏi thăm được bạn bè chỉ dẫn, CCB Phạm Văn Tuấn cùng một bạn chiến đấu đã lặn lội lên tận Yên Thế, Bắc Giang tìm được vợ chồng ông Nguyễn Thanh Bình (sinh năm 1955, chiến sĩ lái xe Tiểu đoàn 101) và Nguyễn Thị Lý (sinh năm 1957, nhân viên nấu ăn thuộc Tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 101). Do ảnh hưởng của chất độc hóa học, hai người không thể sinh con và hoàn cảnh gia đình cũng còn vất vả. “Hôm ấy, anh Tuấn và anh Cường đột ngột xuất hiện trong sân nhà khiến vợ chồng tôi bất ngờ lắm. Mãi mới nhận ra, rồi cùng ôm nhau nức nở. Hiểu hoàn cảnh của chúng tôi, hai anh thông báo cho đồng đội biết nên từ đó chúng tôi được giúp đỡ nhiều. Nay cuộc sống ổn định hơn, cũng có điều kiện về sum họp mỗi lần sư đoàn tổ chức gặp mặt. Vui và tình nghĩa như thuở chung chiến hào”-cô Nguyễn Thị Lý nói.

SONG THANH