QĐND - “Cùng chung một mái nhà ngót nửa thế kỷ, có với nhau 7 mặt con, nhưng tuổi trẻ của chúng tôi là những ngày xa nhau đằng đẵng. Ông ấy đi chiến trận liên miên, một năm chẳng có mấy ngày được ở cạnh vợ con. Giờ ông ấy không còn, thương nhớ bao nhiêu tôi chỉ biết nhìn ngắm những kỷ vật ông ấy để lại cho nguôi ngoai...” - bà Dương Thị Trang, người vợ tần tảo của Trung tướng Bằng Giang, nguyên Tư lệnh Quân khu Tây Bắc (nay là Quân khu 2) rưng rưng khi bắt đầu câu chuyện với chúng tôi về người bạn đời của mình...

Bà Dương Thị Trang, phu nhân Trung tướng Bằng Giang dường như không thấy mệt khi kể chuyện về chồng mình. Ảnh: TUẤN TÚ

Nên duyên từ câu nói...

Trong căn phòng nhỏ rộng chừng 30 mét vuông ở Khu tập thể 34 Lý Nam Đế, Hà Nội, bà Dương Thị Trang nay đã 87 tuổi nhưng vẫn minh mẫn mặc dù bước đi không còn nhanh nhẹn như xưa nữa. Như sợ cuộc trò chuyện với chúng tôi có thể kéo dài làm bà mệt, cô con gái Nguyễn Dương Ánh Đào đề nghị cùng tham gia. Nhưng hễ cô mở lời bà lại ngăn lại như một sự khẳng định, ông là của bà. Và chỉ bà mới có những điều riêng tư để nói về ông. Và quả thật, khi trở lại với những hồi ức về Trung tướng Bằng Giang, khuôn mặt bà như bừng sáng...

Chuyện nên duyên chồng vợ của ông bà qua lời kể của bà có lẽ với giới trẻ bây giờ dường như không tưởng, nhưng thực tế như mới vừa diễn ra hôm qua. Năm ấy, cô thôn nữ Dương Thị Trang tham gia phong trào thanh niên ở quê hương (xã Minh Tân, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc), sau khi cùng nhân dân tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công, Trang xung phong vào bộ đội. Do có trình độ nên cô được cho đi học cứu thương, sau đó được cử lên Thái Nguyên giữ kho thuốc của Chiến khu 1. Một buổi tối, Trang cùng Hùng Sơn và Bình Quang, hai cậu thiếu sinh quân nhỏ hơn mấy tuổi đi xuống bản chơi. Trên đường về, cả ba gặp ông Bằng Giang cưỡi ngựa qua. Thấy hai cậu thiếu sinh quân lễ phép chào rồi nói nhỏ: “Chị ơi, đây là cái thủ trưởng cấp cao đấy”, Trang cũng chỉ gật gù chiếu lệ còn trong bụng nghĩ thầm: Thủ trưởng thì phải oai chứ, ai lại đi một mình xuống đơn vị đột xuất như thế này. Nghĩ vậy, cô không nói gì chỉ lặng lẽ quan sát.

Thấy ông gần gũi, dung dị khi trò chuyện với hai chàng thiếu sinh quân, cô cũng mạnh dạn: Đồng chí thủ trưởng ơi, đồng chí cho tôi đi học y tá đi chứ ở trên này trông kho mãi chán lắm. Tưởng nói thế thôi, ai ngờ mấy hôm sau, bác sĩ Trương Tấn Lập-phụ trách quân y quân khu gọi Trang lên và thông báo quyết định cử cô đi học lớp đào tạo y tá do quân khu mở. Lúc này cô mới chợt nghĩ: Hóa ra đấy là thủ trưởng quân khu thật. Mình chỉ đề nghị bâng quơ thế mà được toại nguyện. Cứ nhận thôi chứ chắc khó có khi nào gặp lại để cảm ơn ông và xin lỗi vì thái độ “thất thố” tối hôm ấy...

Tưởng mọi việc cứ thế trôi đi. Sau gần 6 tháng học y tá, Trang được về Phúc Yên, gần nhà công tác. Nhưng do công việc bận bịu lại hăng say công tác, chẳng mấy khi cô ghé về thăm nhà. Một buổi tối, cô cùng mấy người bạn đi dạo thì lại gặp Khu trưởng Bằng Giang đi xe goòng qua, thấy nhóm của Trang, nhận ra đã từng gặp cô ở Thái Nguyên, ông yêu cầu dừng xe. Trang nhanh nhảu nói:

- Chào cán bộ, cán bộ đi công tác về ạ?

- Ừ, tôi đi mặt trận về. Thế cô về đây rồi à? Dạo này lớn quá rồi nhỉ!

Chào hỏi qua loa rồi ai đi đường nấy. Nào ngờ, mấy hôm sau, Trang nhận được tin gia đình báo bố mẹ ốm nặng phải về ngay. Tất tả khăn gói về đến cổng nhà, vẫn thấy cha mẹ khỏe mạnh đi lại trong sân, Trang ngẩn người. Hóa ra, bố mẹ cô gọi về để chuẩn bị cưới chồng cho cô. Đó là năm 1947, cô vừa tròn 17 tuổi. “Hồi ấy vẫn giữ nếp cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy. Tôi dù còn trẻ nhưng cũng không dám trái ý, nhất mực nghe theo sắp xếp của bề trên”-Bà nói.

Trong thời gian chuẩn bị cho đám cưới, cô được người thân kể lại, mấy hôm trước có hai ông cán bộ cưỡi ngựa về hỏi cưới cô cho thủ trưởng của họ. Nghe giới thiệu về người này, lại là qua đồng chí Trung đoàn trưởng và Chính ủy Trung đoàn Vĩnh Yên trực tiếp đến hỏi, bố mẹ cô tuyệt đối tin tưởng nên đồng ý ngay. Vậy là chỉ trong vòng 10 ngày, đám cưới đã diễn ra. Người mà cô lấy làm chồng không ai khác là... Khu trưởng Bằng Giang.

Gia đình Trung tướng Bằng Giang. Ảnh do gia đình cung cấp

Mãi mãi một tình yêu

Đến bây giờ, bà Trang vẫn không lý giải nổi việc ông bà nên duyên đơn giản là thế, mà trải qua thời gian, qua bao nhiêu khó khăn vất vả, lại bền chặt đến vậy. Bà kể rằng, ngay sau đám cưới 3 ngày, ông được lệnh đi làm nhiệm vụ. Bà ngạc nhiên hỏi, ông giấu không nói gì chỉ bảo: “Trên bảo đi, thì đi”. Khoảng 4 tháng sau ông trở về, khi giặt áo cho ông, bà mới thấy có lá thư của đồng chí Võ Nguyên Giáp gửi Bằng Giang giắt trong túi áo. Bên cạnh nội dung giao nhiệm vụ, trao đổi công việc, là cả những lời động viên, dặn dò, nhất là câu: “Bằng Giang ơi, giữ vững chí tiến thủ nhé!” khiến bà không khỏi suy tư. Mạnh dạn hỏi chồng, thì ông bảo: “Trẻ con, biết cái gì mà hỏi!”.

Nội dung bức thư với câu nói ấy dù đã bị ông gạt đi nhưng bà vẫn canh cánh trong lòng. Cấn cá mãi, cuối cùng bà vẫn quyết định tìm gặp Chính ủy Song Hào hỏi rõ ngọn ngành. Hóa ra vì lúc ông bà làm đám cưới, Chiến dịch Sông Lô đang diễn ra. Dù chiến thắng, nhưng trên cương vị chỉ huy trưởng Bằng Giang lại “kết hợp” lấy vợ nên bị kỷ luật. Khi nhận thư của đồng chí Võ Nguyên Giáp, Khu trưởng Bằng Giang rớt nước mắt nhưng giấu không cho bà biết. Khi biết rồi, hiểu tính cách của chồng, bà cũng im lặng coi như không biết và lặng lẽ ở phía sau ủng hộ ông.

Trung tướng Bằng Giang (1915-1990) tên thật là Nguyễn Văn Cơ. Ông là người dân tộc Tày, tỉnh Cao Bằng. Ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1932, trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1935. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông giữ các cương vị: Khu phó, Khu trưởng Khu 1, Khu 10 (1946-1947); Tư lệnh Liên khu 10, Khu Tây Bắc (1948-1954); Tư lệnh Quân khu Tây Bắc (1957-1964); Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân (1965-1966); Tư lệnh Quân khu Việt Bắc... Năm 1978, ông về nghỉ hưu sau hai năm trên cương vị là  Phó tổng Thanh tra quân đội. Ông được bầu làm Đại biểu Quốc hội các khóa III, IV, V, VI.

Suốt những năm sau đó, ông đi chiến đấu liên miên, hết Chiến dịch Biên Giới lại đến Chiến dịch Tây Bắc, rồi Điện Biên Phủ... Ở chiến khu, bà cũng tích cực phấn đấu nên vợ chồng không thường xuyên gặp nhau, có khi kéo dài đến 5-7 tháng. “Mỗi lần đi mặt trận, ông ấy chỉ bảo tôi là đi làm nhiệm vụ không biết đi đâu. Có lần về thì kể: “Hôm rồi suýt chết. May mà vừa đi qua thì pháo rơi”. Vậy thôi, nhưng tôi biết ông ấy đang đi vào nơi hòn tên mũi đạn và để ông ấy không lo lắng việc nhà, tôi cũng không nói gì nhiều. Vì tôi, ông ấy còn chịu cả kỷ luật của trên cơ mà. Tôi tin xong việc, thế nào ông ấy cũng về với mẹ con tôi”-Bà tâm sự.

 

Thế nhưng, có “chuyện vui” theo cách nói của bà, không hiểu sao, sau mỗi lần ông về tranh thủ, thì chỉ khoảng 10 ngày sau bà lại biết mình mang thai. Chẳng thế mà khi đang học ở Trung Quốc, Trung ương triệu tập ông về nước họp khoảng hai tuần. Khi trở lại Trung Quốc thì ông nhận được tin vợ có thai, ông viết thư về khoe: “Ba thằng đi học cùng, cũng về nước họp mà chỉ có mình báo có thai. Chúng nó cứ trêu mãi là đi Hoa, về Việt đấy”. Sau này khi sinh con gái, ông bà đặt tên chị là Việt Hoa.

Bảy người con lần lượt ra đời khi ông đi công tác biền biệt, mình bà vẫn cần mẫn nuôi dạy các con nên người. Tiếc rằng, do xấu số, ông bà chỉ giữ được 4 người con. Đến giờ, khi ông đã khuất núi ngót 30 năm, bà vẫn canh cánh bên lòng nỗi nhớ thương chồng. Điều này lý giải mọi thắc mắc của chúng tôi khi bước vào căn phòng của bà. Một chiếc giường nhỏ ở trung tâm, xung quanh là những bao tải xếp gọn gàng, kín cả gian phòng. “Đó đều là tư trang ông ấy để lại. Thương nhớ ông ấy, tôi không nỡ bỏ đi. Cứ để thế, bao giờ sang bên kia gặp ông ấy, tôi sẽ mang theo”-Bà nghẹn lời...

BÍCH TRANG