Tháng 9-1974, Đại đội phó Đại đội 7, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 18, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2 Đinh Quang Thìn khẽ đọc đi đọc lại bài thơ với nét chữ mảnh đều tăm tắp trong cuốn sổ “Nhật ký tình yêu” của người yêu Đoàn Thị Mai Loan.

Bài thơ được cô sinh viên sư phạm vừa ra trường nhận công tác gửi tặng trước lúc anh hết phép lên đường trở lại đơn vị ở chiến trường Khu 4. Những lời thơ nhẹ nhàng nhưng chất chứa yêu thương, mang nặng tâm tư và lời hứa của Mai Loan đã mang đến cho Quang Thìn sự vững tin vào tình yêu và cuộc sống. “Loan ơi! Anh sẽ sống xứng đáng với màu áo xanh. Để kết thúc chiến tranh, anh sẽ trong màu áo “cuộc đời” về thưa chuyện trăm năm”. Thìn buột miệng nói to giữa khu rừng với những hố bom và mùi khét của thuốc súng, của cây rừng sau cháy, khi cảm xúc yêu thương dạt dào xô đẩy dòng kỷ niệm...

leftcenterrightdel
 Vợ chồng cựu chiến binh, Đại tá Đinh Quang Thìn.

Giữa những ngày đầu năm học ở Trường cấp 1 Dân Chủ, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên vào năm 1961, cả lớp 1 ngạc nhiên tròn xoe mắt khi nhìn thấy một “anh” Việt kiều (vừa từ Tân Thế Giới, một hòn đảo thuộc địa của Pháp, theo bố mẹ về định cư tại Thái Nguyên)-học sinh mới lấm lét trong tay mẹ được cô giáo dẫn vào lớp. 8 tuổi mới học lớp cùng đám 6 tuổi, cùng cái giọng ngọng líu ngọng lô đã tạo ấn tượng khác biệt và ngạc nhiên ở Quang Thìn giữa đám bạn nhỏ tuổi, trong đó có Mai Loan, cô bạn hàng xóm. Nhưng được cái Quang Thìn chăm học lại tốt bụng nên mọi người đều yêu quý.

Thời gian thấm thoắt trôi, ngày ngày, đám bạn cùng rủ nhau đội mũ rơm tránh bom đạn của giặc Mỹ đến trường. Rồi một ngày Thìn nhận ra mình thích ngắm nhìn cô bạn hàng xóm và ngược lại, mỗi khi bắt gặp ánh mắt của Thìn đang nhìn trộm, Mai Loan lại che vội khuôn mặt ửng đỏ, bẽn lẽn thẹn thùng quay mặt sang đám bạn đang mải mê trò chuyện. Đôi mắt bồ câu đen tròn, sống mũi cao và khuôn mặt trái xoan của Mai Loan đã ru giấc ngủ nhiều đêm cho trái tim non trẻ đang run rẩy nhớ thương của Quang Thìn.

- Thìn ơi! Tiếng Mai Loan gọi nhỏ. Đang cùng mẹ gói ghém đồ đạc để mai lên đường ra trận, Quang Thìn giật bắn mình, trái tim như muốn xổ tung lồng ngực, khẽ xin phép mẹ, anh mở cửa bước ra đi về phía cổng nơi Mai Loan đang đứng tựa cửa và bối rối. Con đường trước nhà trong đêm mùa thu được ánh trăng soi sáng vằng vặc. Mười mùa thu đã trôi qua với bao kỷ niệm của những ngày chung bước đến trường, những tiếng cười trong trẻo, những trò đùa tinh nghịch của tuổi học trò. “Mai Thìn lên đường à?”. “Ừ, mai tớ đi rồi”. Mai Loan khẽ nói: “Cậu đi nhớ giữ sức khỏe, hãy cố gắng và phải trở về với Đồng Hỷ, về gặp lại bạn bè nhé!”. “Loan đợi mình nhé!”. Lấy hết can đảm, đôi tay Thìn run rẩy nắm bàn tay của Mai Loan. Vẫn để bàn tay trong đôi tay ấm áp của Thìn, Mai Loan nhẹ cúi đầu để tránh ánh mắt nồng nàn của Quang Thìn. Không gian tĩnh lặng văng vẳng tiếng côn trùng đang tấu khúc nhạc khuya. Thời gian trôi qua như chớp mắt với hình ảnh tuổi thơ lướt nhẹ như đang rơi vãi đâu đó trên con đường đá sỏi ngoằn ngoèo.

Bom đạn trên chặng đường hành quân và những ngày hè đỏ lửa ngập trong khói súng, tiếng bom ở Quảng Trị, những bức thư của Mai Loan đến với Thìn như những lời động viên anh trên chiến tuyến. “Dân Chủ, ngày 24-5-1972. Quang Thìn xa nhớ!... “L luôn nhớ tới T và các bạn… L vẫn có ước mong được trở lại những ngày còn cắp sách đến trường, trở lại những kỷ niệm của tuổi thơ ngây đầy hồn nhiên và tươi đẹp. T đừng cho rằng những “người đi xa”… Không phải đâu T ạ, L vẫn nhớ T nhiều lắm, nhớ và thương. Nhớ đến những bông hoa làm từ quả đu đủ nhuộm màu xinh xắn”.

“Ngày 26-5-1972, triển khai đào công sự ở khu nhà thờ Thanh Hương. Trong lúc đang hội ý cán bộ, một quả pháo hạm 203mm đã rơi nổ cạnh hầm. Chúng tôi, 5 anh em từ A trưởng đến B trưởng đều bị sức ép và chỉ còn thở gấp qua ống thông hơi”. “Ngày 26-7-1972, sau khi trung đội đẩy lùi 2 đợt tấn công của địch, bọn chúng lại tập trung hỏa lực lên trận địa phòng ngự và tổ chức đợt tấn công thứ 3 vào chốt. Tôi nhảy ra khỏi hầm trú ẩn, chộp lấy khẩu B40 của đồng chí Hòa (vừa bị thương và được đưa vào hầm), nhảy ra giao thông hào bắn liên tiếp 3 quả đạn vào chỗ có quân địch đông nhất. Lúc này, tai tôi ù đi chẳng còn nghe thấy tiếng gì hết. Sau khi vừa lắp xong quả đạn thứ 4, chuẩn bị bắn thì tôi bị trúng M79, máu ở mặt và cánh tay trái chảy đầm đìa làm tôi choáng váng, khẩu súng rời khỏi tay, ngã khụy xuống, chỉ kịp kêu lên: Tôi bị thương rồi”. Đọc lại những trang nhật ký, CCB Quang Thìn kể: Những lúc bị thương, hình ảnh Mai Loan và những dòng thư của cô ấy như tiếp thêm cho tôi sức mạnh, ý chí, lòng dũng cảm để tiếp tục cùng đồng đội chiến đấu trên trận địa. Tháng 8-1974, lúc này chiến tranh phá hoại ở miền Bắc kết thúc, tôi được đi nghỉ phép. Ngay tối hôm về đến nhà, tôi đã đến nhà Mai Loan. Lúc này, Mai Loan cũng vừa tốt nghiệp sư phạm ra trường đang đợi phân công công tác. Thời gian cả tháng phép chúng tôi dành cho nhau. Nhớ mãi đêm trăng mùa thu sau ba năm trời xa cách, đó cũng là đêm đầu tiên tôi tỏ tình với Mai Loan. Cô ấy tặng tôi chiếc khăn mùi xoa và tập thơ tự sáng tác, ghi lại những bài thơ viết về tình yêu cô ấy dành cho tôi… Tôi trả phép mà lòng lâng lâng niềm vui, với lòng tin và niềm hy vọng ngập tràn ngày chiến thắng tôi sẽ về xin phép bố mẹ hai bên làm đám cưới.

Tháng 6-1976, Quang Thìn được nghỉ phép. Một tuần sau ngày về, một đám cưới bình dị, ấm cúng được tổ chức. Chú rể mặc bộ quân phục xanh lá cây còn nguyên nếp gấp, cô dâu mặc áo trắng tinh khôi, bước đi trong sự hân hoan của hai bên gia đình và bạn bè. Sau những ngày trăng mật đầy hạnh phúc, Quang Thìn lại lên đường trở về đơn vị và tham gia làm nghĩa vụ quốc tế trên đất bạn Campuchia và Lào. Mai Loan ở lại vững tin vượt khó chăm sóc con gái đầu lòng. Tháng 9-1986, Quang Thìn được điều động về nhận công tác ở Ban CHQS TP Thái Nguyên. Vậy là từ đó đến nay, Quang Thìn và Mai Loan được sum vầy bên nhau cùng chung tay giữ lửa ấm cho mái nhà hạnh phúc.

Bài và ảnh: NGỌC GIANG