Bà con nơi đây ngưỡng mộ tình cảm của đôi vợ chồng già nhưng không mấy ai biết, để có được niềm hạnh phúc đó, ông Tuyến, bà Liên đã đằng đẵng hơn 20 năm xa cách vì chiến tranh.

Thư gửi 3 năm mới đến tay người nhận

Năm 1954, ông Trần Quang Tuyến (quê ở xã Phổ Ninh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi) khi đó gần 30 tuổi, cùng đồng đội lên tàu biển đi tập kết ra miền Bắc chờ ngày tổng tuyển cử theo Hiệp định Giơ-ne-vơ. Trước ngày lên tàu, ông chỉ kịp dặn dò vợ và động viên cha mẹ kiên tâm bám trụ quê nhà chờ tin ông. Ông Tuyến nhớ lại: “Tàu chở chúng tôi theo lịch trình sẽ cập bến ở Quảng Bình nhưng do gặp bão lớn, tàu dạt ra phía Bắc nên phải cập cảng Hải Phòng. Lúc tôi đi, gia đình không ai đưa tiễn, bởi tất cả đều gấp rút, vợ tôi lại bận bịu con nhỏ không tiện bế theo ra bến. Dù vậy, tôi và những thành viên trên tàu đều vững niềm tin dù thế nào cũng sẽ trở về được miền Nam. Ra tới Hà Nội, tôi được phân công về làm việc ở bưu điện thành phố. Thời gian đó có nhớ nhà, nhớ vợ con cũng không dám viết thư vì kẻ thù mà biết được gia đình tôi ở quê có liên hệ với người đi tập kết thì chúng sẽ tìm mọi cách để bắt bớ, khảo tra, gây áp lực khó mà sống nổi”.

leftcenterrightdel
Ông Tuyến, bà Liên cùng nhau sắp xếp lại kỷ vật thời tuổi trẻ. 

Ông Tuyến đi rồi, bà Liên ở lại quê nhà tần tảo nuôi con, chăm sóc cha mẹ chồng và tiếp tục làm liên lạc cho cơ sở cách mạng hoạt động bí mật. Đến năm 1955, khi có đường dây liên lạc tin cậy ra miền Bắc, bà mới lén viết thư báo tin cho chồng cả nhà vẫn mạnh khỏe, mong ông yên tâm công tác. Nhưng thật gian nan, lá thư gửi không đúng địa chỉ vì nơi ông cập bến năm 1954 khác hẳn với ý định ban đầu nên hành trình của lá thư đã đi qua rất nhiều đơn vị. “Gửi thư rồi chỉ mong chồng nhận được và yên lòng làm nhiệm vụ chứ tôi nào dám mong nhận được hồi âm. Mãi đến năm 1966, khi ông ấy bí mật về thăm nhà, tôi mới biết lá thư mình gửi hơn 3 năm (1958), mới đến được tay chồng. Điều bất ngờ hơn, lá thư được gửi đến một đơn vị bộ đội ở miền Bắc-nơi em trai tôi công tác. Một lần tình cờ nhìn thấy tập thư gửi về cơ quan, lật tìm xem có thư nhà hay không, em trai tôi đã nhận ra nét chữ của chị gái, tên người nhận là anh rể nên cậu ấy liền liên lạc, tìm đúng địa chỉ đơn vị và gửi ngay cho chồng tôi. 12 năm xa cách, khi gặp lại, tôi xúc động rơi nước mắt vì ông ấy đã giữ gìn lá thư cẩn thận suốt 8 năm trời, luôn để trong túi áo chẳng khi nào rời”-bà Trương Thị Liên nhìn chồng âu yếm.

Về phần mình, do phải giữ bí mật nên 12 năm, ông Tuyến chỉ gửi một lá thư về cho vợ. Lá thư đến được tay bà thì đã ố vàng, nhiều chỗ bị mủn, nét chữ bạc màu không thể đọc được. Vậy là chẳng có tin tức gì của chồng! Năm 1960, khi làm giao liên vận chuyển thư mật, biết có người đồng hương từ miền Bắc mới vào, bà Liên tìm đến hỏi thăm về chồng nhưng cũng không ai biết… Mãi đến một đêm năm 1966, ông bí mật trở về chốc lát, vợ chồng mới được gặp nhau.

Tuổi già quấn quýt bên nhau

Cùng ông Tuyến rời xa quê hương lên đường đánh giặc có 11 người trong nhóm. Kết thúc chiến tranh chỉ còn ông và một đồng chí nữa, không lành lặn trở về với gia đình. Bởi thế, ông luôn trân trọng những gì còn lại của cuộc đời mà vợ và các con là món quà vô giá. Giờ đây, khi tuổi đã cao, tay chân không còn nhanh nhẹn, tai đã phải nhờ đến máy trợ thính nhưng khi nghe ai hỏi đến thời kháng chiến oanh liệt, đôi mắt ông lại sáng lên niềm tự hào. Vuốt chòm râu bạc, ông Tuyến bảo: “Trong chiến tranh, yêu nhau là trao trọn niềm tin, thậm chí có những người mòn mỏi đợi chồng đến khi đất nước thống nhất mới biết tin chồng đã hy sinh mà vẫn một lòng hóa đá vọng phu. Với gia đình tôi, chồng đi làm cách mạng, vợ ở nhà tay cuốc, tay súng, chăm sóc gia đình, cả hai chúng tôi đều luôn đặt trọn niềm tin vào nhau, hơn 20 năm mới có một lần thư nhưng chưa bao giờ vơi đi nỗi nhớ”.

Ngày gia đình đoàn tụ, vợ chồng ông Tuyến đều đã ở độ tuổi 50. Để bù đắp cho hơn 20 năm xa cách, ngày ngày làm việc gì hai người cũng có nhau: Từ việc đi chợ, ra đồng hay đi thăm bạn bè, hàng xóm, ông bà đều như hình với bóng. Hiện nay, ông Tuyến bị lãng tai nên bà Liên trở thành “phiên dịch viên” cho ông mỗi lần nhà có khách. Chỉ cần ông nói vài câu là bà đã hiểu, diễn đạt đúng ý ông. Tuy tuổi đã cao nhưng ông bà vẫn tự nấu ăn để tiện chăm sóc nhau, hiếm khi phải nhờ cháu con giúp đỡ. Ông Tuyến tâm sự: “Nghĩ đến ngày trẻ xa cách không được chăm sóc cho nhau nên giờ vợ chồng tôi trân trọng từng ngày còn được sống cạnh nhau. Cả đời bà ấy vất vả, lo lắng cho gia đình quên cả bản thân. Giờ mình bù đắp cho vợ cũng là lẽ thường tình”. 

Bài và ảnh: HOÀNG THÀNH - ĐĂNG TÙNG