Bây giờ thì ông đã đi xa mãi mãi. Hôm ấy, nghe tôi đặt vấn đề, ông bảo: “Cháu muốn tìm hiểu về việc bảo đảm đạn cho tên lửa đánh máy bay Mỹ trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972 ư? Chuyện thú vị đấy. Bởi đạn tên lửa là loại đạn đặc thù, khác với các loại đạn khác. Phải qua một dây chuyền lắp ráp, nói chung là khá phức tạp mới sử dụng được”.

Ngày ấy, tôi vinh dự được cấp trên giao nhiệm vụ cùng với đội ngũ cán bộ Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không-Không quân tổ chức bảo đảm vũ khí trang bị cho các đơn vị hỏa lực đánh máy bay Mỹ, trong đó có việc bảo đảm đạn cho các đơn vị tên lửa. Đầu năm 1972, ta mở Chiến dịch Trị Thiên. Trên đã lệnh cho Cục Kỹ thuật chuyển 700 quả đạn vào chiến trường. Thế nhưng do đường xa hiểm trở, địch lại đánh phá rất ác liệt nên ròng rã suốt 4 tháng trời mới chỉ chuyển được 400 quả đạn. Tháng 4-1972, đế quốc Mỹ ném bom ra miền Bắc, việc vận chuyển đạn phải ngừng lại. Trung đoàn 257, 275, rồi cả các đơn vị của Sư đoàn 361, 363 cũng lần lượt di chuyển ra Bắc, nhưng không chuyển đạn ra được. Tình hình đạn tên lửa ở miền Bắc lúc ấy khá khó khăn. Cục Kỹ thuật phải tính toán giải quyết khó khăn này bằng cách phục hồi 300 quả đạn hỏng đang nằm ở kho Sóc Sơn (Quảng Ninh) từ năm 1967. Đây là việc không hề đơn giản. Quân chủng tổ chức hai dây chuyền sản xuất đạn, lại chỉ thị cho Sư đoàn 361 và 363 tổ chức tiếp hai dây chuyền nữa. Cán bộ, chiến sĩ lăn lưng ra làm việc không quản ngày đêm mới khôi phục được 300 quả đạn để cấp phát cho các đơn vị. Tháng 8-1972, số đạn Liên Xô hỗ trợ cho ta mới đến ga Đồng Đăng. Quân chủng giao cho Cục Kỹ thuật lập trạm tiếp nhận ở Lạng Sơn.

leftcenterrightdel
Chuẩn bị tên lửa trước trận đánh. Ảnh tư liệu.

Tuy nhiên, để số đạn tên lửa kia về được mỗi trận địa, công đầu thuộc về cán bộ, chiến sĩ các tiểu đoàn kỹ thuật. Bởi lẽ, đạn tên lửa được tháo rời từng bộ phận, đóng vào các hòm khác nhau: Hòm đầu đạn, hòm đuôi, hòm cánh, hòm nhiên liệu... đến ga tàu phải dùng cần cẩu cẩu xuống. Chúng tôi phải sử dụng xe chuyên dụng vận chuyển những thùng đựng đạn đến nơi cất giấu an toàn cách đó vài chục cây số, mà phải di chuyển trong đêm để tránh con mắt “cú vọ” của kẻ thù. Ngay cả việc vận chuyển đạn tên lửa về trận địa Hải Phòng hay Hà Nội cũng gặp muôn vàn khó khăn. Nó đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn trọng rất cao. Chỉ cần sai sót nhỏ sẽ dẫn đến sự thiếu đồng bộ bởi mỗi hòm là một bộ phận của quả đạn, tài liệu lại không đi kèm. Thật mừng là tình trạng lạc hòm hay nhầm lý lịch đã không xảy ra. Cứ tuần tự như thế, đến tháng 11-1972, 1.000 quả đạn tên lửa đã được chuyển an toàn từ nước bạn về Việt Nam.

Khi ta bước vào chiến dịch 12 ngày đêm, các đơn vị tên lửa trên miền Bắc cũng có một số đạn dự trữ, nhưng không đáng kể. Để phục vụ cho các trận địa tên lửa của Hà Nội và thành phố Hải Phòng có hai tiểu đoàn, hai dây chuyền sản xuất đạn. Họ được bổ sung thêm quân liên tục thay nhau sản xuất cả ngày lẫn đêm để kịp có đạn cho bộ đội chiến đấu. Tuy nhiên, mới chỉ qua hai đêm đầu tiên của chiến dịch, nguy cơ thiếu đạn tên lửa đã xảy ra. Ngay cả khi Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân chủ trương dành tên lửa chỉ đánh B-52 thì hầu như đêm nào cũng có những tiểu đoàn phải đánh đến quả đạn cuối cùng. Bởi lẽ, mỗi một mục tiêu B-52 có khi ta phải bắn vài ba quả. Để khắc phục tình trạng thiếu đạn tên lửa, tư lệnh quân chủng trực tiếp giao nhiệm vụ cho tôi phải chỉ đạo tìm phương án tháo gỡ.

Lúc đó, ta có Tiểu đoàn Kỹ thuật 95 đang sản xuất đạn phía bắc sông Hồng và Tiểu đoàn 80 sản xuất đạn ở Phùng. Tôi đề nghị điều tiểu đoàn kỹ thuật của Trung đoàn 274 tăng cường cho dây chuyền sản xuất tên lửa của Tiểu đoàn 80; điều đội lắp ráp đạn của Xưởng A31 xuống tăng cường tiếp cho Tiểu đoàn 80. Với khẩu hiệu “Tất cả cho chiến đấu!”, “Tất cả cho sản xuất đạn tên lửa”, cả guồng máy lắp ráp đạn tên lửa được vận hành hết công suất. Sản lượng tăng gấp đôi. Thêm vào đó, trước đây ta bố trí các bãi lắp ráp đạn tên lửa ở xa nhau là để giảm tổn thất nếu bị Mỹ ném bom, nay tốc độ lắp ráp này không thể nào đáp ứng nổi. Phải cải tiến quy trình, thao tác để làm sao trong một ngày đêm có thể cung cấp được một số lượng đạn tên lửa nhiều hơn. Qua nhiều ngày đêm cùng anh em trong đơn vị tìm tòi, Tiểu đoàn trưởng kỹ thuật Dương Quảng Châu đã đề ra sáng kiến mới: Nạp nhiên liệu sẵn, lắp ráp đạn ngay trên xe kéo đạn và hợp lý hóa một số động tác kỹ thuật, vì thế mà năng suất lắp ráp đạn trong một ngày đêm tăng lên gấp đôi. Cục Hậu cần quân chủng còn cho mở kho, xuất đường, sữa, thịt hộp, lương khô... vốn là tiêu chuẩn dành riêng cho cán bộ, chiến sĩ đi B để bồi bổ sức khỏe cho anh em các tiểu đoàn kỹ thuật. Cả những viên thuốc làm dịu thần kinh, chống cơn buồn ngủ cũng được gửi đến tận tay chiến sĩ. Nhờ những biện pháp tích cực nói trên, tình trạng lắp ráp đạn không theo kịp yêu cầu chiến đấu đã cơ bản được giải quyết. Khi địch đưa B-52 ồ ạt vào ném bom Hà Nội, ta đã có đủ cơ số đạn tên lửa để “nghênh tiếp” chúng. Điển hình là đêm 26-12, địch sử dụng 105 lần chiếc B-52 đánh liên tục, tập trung vào nhiều mục tiêu quan trọng ở Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên; có 8 máy bay B-52 bị “lưới lửa” phòng không của ta bắn hạ.

81 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có 34 máy bay B-52 là con số thật ấn tượng, làm nức lòng quân dân cả nước khi nói về chiến thắng 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972. Trong chiến công chung ấy, có một phần đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ ngành kỹ thuật phòng không-không quân. Họ đã thể hiện rõ nét tính chủ động, sáng tạo, tự lực tự cường, không quản ngày đêm gian nan, vất vả để lắp ráp và vận chuyển đủ cơ số đạn tên lửa cho các trận địa trút lửa xuống đầu thù.

Câu cuối cùng Trung tướng Lương Hữu Sắt nói với chúng tôi mà như nói với chính mình: Với tôi, đó là một chiến công thầm lặng mà chứa đựng rất nhiều ý nghĩa.

QUỲNH VÂN