Một ngày hè năm ấy, chúng tôi lên đường, hành trang đơn giản chỉ có quần áo và thuốc men, nhưng lòng quyết tâm rất cao, quyết vượt qua mọi thử thách để hoàn thành nhiệm vụ...
Vượt biên giới đặt chân đến huyện Mường Nong, tỉnh Savannakhet, chúng tôi rất bất ngờ và xúc động vì nhân dân xứ sở hoa Champa đón tiếp rất niềm nở, vui mừng như những người đi xa trở về, đi đến đâu cũng được dẫn đường, chỉ lối cẩn thận, còn cung cấp lương thực cho chúng tôi đi đường.
Trong quá trình thi công, khai thác tuyến đường mới này có một việc mà tôi nhớ suốt đời. Số là giữa năm 1966, đường đã mở đến đèo Bo Phiêng, tỉnh Pavenoc, Nam Lào thì gặp phải địa hình rất hiểm trở, phức tạp, toàn núi cao, vực thẳm, rừng rậm, vượt qua con sông lớn Xekaman… Cấp trên thì thúc giục yêu cầu làm khẩn trương. Năm 1965, Mỹ đã ồ ạt đưa quân vào miền Nam, chiến trường càng ác liệt. Tôi đếm từng ngày, sốt ruột sốt gan, đầu như vỡ tung. Rất may có ông già đã 75 tuổi người địa phương “giải cứu”, ông nói: “Có một con đường mòn từ lâu lắm tôi còn nhớ, ngày xưa bọn Pháp đã dùng ngựa thồ hàng hóa qua đường này”. Ông tình nguyện dẫn chúng tôi đi tìm dấu vết. Suốt 10 ngày liên tục trèo đèo, lội suối, ông chẳng quản ngại vất vả, minh mẫn và cuối cùng đã “giải mã” được con đường. Chúng tôi vui mừng, sung sướng và đặt tên con đường là 128.
Thật trớ trêu, vừa vui lại buồn ngay. Mùa mưa ập đến, nước sông, nước suối chảy xiết, đường trơn lầy lội, đoàn vận tải không đi được. Gạo ăn của bộ đội từ 8 lạng nay rút xuống chỉ còn 2 lạng. Cường độ lao động của chiến sĩ rất cao, không có gì bù đắp, sức khỏe vơi dần, số đông chiến sĩ mắt đã mờ, chân tay run lẩy bẩy, đi không vững, lả dần. Tôi vô cùng xót xa, tội nghiệp quá…
Trước tình cảnh ấy, những người dân nước bạn Lào tuy nghèo đói nhưng nghĩa cử vô cùng cao đẹp, sẵn sàng chia sẻ với bộ đội Việt Nam. Trong nhà còn có gì có thể ăn được là đem ủng hộ, từ củ dong riềng, mớ hạt dẻ, vài bơ cám gạo, các loại rau củ quả… không tiếc gì… Bộ đội ta rất cảm động trước tấm lòng thiện thảo của nhân dân Lào, tăng thêm lòng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.
Con đường Trường Sơn ngày càng lớn, càng rộng càng dài nối mạch Bắc-Nam, rẽ ngõ vào những vùng miền Trị Thiên-Khu 5-Nam Bộ-Tây Nguyên. Con đường còn nối 60 cây số đường sông vượt qua 40 thác ghềnh hung dữ, tất cả như một trận đồ bát quái. Địch đánh phá liên tục, ác liệt đêm ngày không biết bao nhiêu bom đạn, thuốc độc nhưng chiến sĩ ta vẫn ngoan cường bám đất, xẻ núi san đường… mồ hôi trộn máu đào với nhiều gương quả cảm, anh hùng mà tôi vô cùng cảm phục.
Đoạn cuối con đường Trường Sơn thật bí hiểm đã hoàn thành xuất sắc để “xe ta băng băng qua trăm núi ngàn sông”, chở hàng liên tiếp viện trợ và những đoàn quân Nam tiến đi giải phóng miền Nam.
 
NGUYỄN ĐỨC TÌNH (Theo lời kể của Thiếu tướng Phan Quang Kiệt, nguyên Cục trưởng Cục Công binh, Bộ tư lệnh 559)