Ngày ấy, tôi được biên chế về Tiểu đoàn 96 tên lửa A72. Từ tháng 3 đến tháng 7-1972, chúng tôi tham gia bắn thực binh máy bay bay thấp ở vùng Sơn Động (Hà Bắc trước đây), phà Rừng-Thủy Nguyên và đảo Cát Hải (Hải Phòng). Giữa lúc huấn luyện gấp gáp để “đi B”, thật bất ngờ tôi được lệnh lên gặp thủ trưởng trung đoàn đóng tại thôn Me, xã Sơn Lai (Nho Quan, Ninh Bình)-chính là quê tôi. Bất ngờ hơn là tôi nhận nhiệm vụ làm giáo viên, dạy chữ cho 15 chiến sĩ mới vừa nhập ngũ. Cùng làm giáo viên với tôi có anh Hòa, anh Nóng và anh Thái Phan Du. Anh Du là sinh viên năm cuối Khoa Vô tuyến, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đẹp trai, mũi cao, da trắng. Anh rất giỏi về viết, kẻ vẽ các chữ, anh còn có năng khiếu về âm nhạc, chơi phong cầm rất hay. Anh em chúng tôi được phân về ở nhà anh Ký, là Hiệu trưởng Trường cấp 1 của xã.

Đêm nằm trăn trở, nếu dạy về máy móc, sửa chữa xe cộ, thiết kế máy thì chúng tôi làm ngon, đằng này lại đi dạy văn hóa cho 15 thanh niên không biết chữ, thời gian rất gấp, quả là một thử thách lớn đối với các "giáo viên trẻ" chưa qua nghề.

leftcenterrightdel
Tác giả (thứ hai, từ trái sang) cùng đồng đội Trung đoàn 237, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không-Không quân. Ảnh do tác giả cung cấp

Ban Hậu cần trung đoàn cấp cho chúng tôi hai nhà bạt tiểu đội màu xanh rất đẹp, được dựng ven đồi Thơ. Nhà bạt vừa làm chỗ sinh hoạt, vừa làm lớp học, vừa là nhà bếp, nhà ăn. Anh Hòa còn khéo léo hướng dẫn đào được bếp Hoàng Cầm, xoong nồi đủ cho một bếp ăn dã chiến. Lớp học thế cũng tạm.

Đồi Thơ mọc đầy sim, không cao lắm nhưng rất đẹp, ven chân đồi có sông bến Đàng chảy qua, nước lúc nào cũng trong xanh, mát lạnh. “Trường” của chúng tôi trước mắt là cả cánh đồng lúa xanh bát ngát chạy dài đến tận chân chùa cổ Bái Đính. Tôi hỏi kỹ thầy giáo Ký cách dạy dỗ thế nào, cách làm kế hoạch giáo án ra sao. Biết chúng tôi mù tịt nên anh chỉ bảo rất kỹ càng. Thấy có lớp học của bộ đội dạy từ chữ o, a..., bà con lạ lắm, đến góp ý, chia vui cùng chúng tôi.

Chúng tôi phân công nhau, tôi dạy Toán buổi sáng, anh Hòa dạy Văn buổi chiều. Buổi sáng lên lớp 4 tiếng, buổi chiều học 3 tiếng, dành 1 tiếng để sinh hoạt chung và đọc truyện ngoại khóa cho học trò nghe. Tiết học này do anh Hòa đảm nhiệm. Không hổ danh trai Hà Nội, anh Hòa đọc truyện đến đâu là các “trò” cứ há hốc mồm ra nghe, nuốt lấy từng lời. Anh đọc diễn cảm, khúc chiết. Mỗi câu chuyện anh còn tóm tắt để các chiến sĩ thấy được cái hay, cái đẹp của cốt truyện.

Thư viện trung đoàn có rất nhiều sách, từ truyện cổ tích Việt Nam đến những truyện ngắn đương đại. Báo chí có: Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Tiền phong, Tạp chí Văn nghệ quân đội... Từ những trang báo, những câu chuyện đã đi vào lòng các chiến sĩ trẻ. Hồi đó có cả tiểu thuyết “Thép đã tôi thế đấy” của Liên Xô. Các chiến sĩ mới người Mường rất thích đoạn anh Pavel hẹn Natasha ra hồ đọc sách và tình yêu được nảy nở từ đây. Trai Mường bình luận bằng tiếng mẹ đẻ, kháo nhau cười khúc khích! Còn tôi thì truyền đạt cho các em những chữ số đầu tiên, dần dần ra những bài toán từ dễ đến khó để họ làm. Rất khô khan, cứng nhắc, nhưng các trò vẫn cố gắng làm hết không bỏ bài nào. Các chiến sĩ đã biết cộng, trừ tiền phụ cấp viết ra giấy...

Những chàng trai người Mường rất thông minh, họ học đến đâu nắm chắc đến đấy, chúng tôi uốn nắn từng nét chữ, từng bài chính tả. Từng ngày, từng ngày các em tiến bộ rõ rệt. Mỗi khi anh em lễ phép gọi chúng tôi bằng thầy, chúng tôi rất xúc động. Ngoài tình đồng chí, đồng đội, chúng tôi còn có tình thầy trò gắn bó.

Chiều chiều, chỉ một quả bóng chuyền, thầy trò cùng nhau nêu-đập, học trò của chúng tôi chơi rất tốt. Thỉnh thoảng có thi đấu với các bạn của cơ quan, hoặc thanh niên địa phương, phần thắng thường là thuộc về đội bóng của lớp học. Với thanh niên mới lớn, thế là vui lắm.

Làng Me nơi chúng tôi đóng quân là đất sắn và chè xanh. Khoảng 9 hay 10 giờ sáng, thầy trò lại được thưởng thức bữa phụ. Vị sắn bùi và bở, vị bột của sắn, vị chát của lá chè đều là loài cây “chung thủy với mọi miền đất nghèo” nên ăn ngon, còn nhớ đến bây giờ.

Lịch trình học tập của chúng tôi rất kín, ban ngày học văn hóa, chiều thể thao, tối sinh hoạt đọc báo. Mỗi tuần chúng tôi dành ra hai buổi học hát hoặc liên hoan văn nghệ với thanh niên địa phương. Anh Hòa, anh Du quả là có năng khiếu văn nghệ. Các anh dạy lớp học những ca khúc của lính như: Vì dân quên mình, Tiến bước dưới quân kỳ, Bác đang cùng chúng cháu hành quân... Với cây đàn phong cầm, anh Du vừa đàn, vừa hát rất "mùi”, có những buổi hứng chí lên anh còn mê say dạy thanh niên Mường hát Tình ca Tây Bắc, Ngôi sao ban chiều, rồi cả Chiều hải cảng, Kachiusa là những bài hát mà thời sinh viên chúng tôi rất thích.

Các bạn thanh niên trong thôn rất quý mến chúng tôi. Tình bạn, tình yêu dần dần chớm nở. Cạnh lớp học chúng tôi có hai chị em cô Sửu, cô Ngọ đều rất xinh. Cô Ngọ là em, cao dong dỏng, thắt đáy lưng ong, có nụ cười duyên, mỗi lần em mang chè xanh cho lớp học, cả lớp đều phải trầm trồ “Ôi xinh quá” bằng tiếng Mường. Còn “thầy Hòa” hôm đó phấn chấn, liếc mắt nhìn đến khi em đi khuất và dạy Văn dường như hay hơn. Không biết có yêu đương gì không, nhưng thỉnh thoảng vẫn thấy “anh chị” đêm trăng sáng khoác tay nhau ra đồi sim tâm sự.

Thời gian trôi đi rất nhanh, thấm thoắt đã hơn hai tháng, các chàng trai người Mường thông minh học hành tiến bộ. Từ những ngày đầu còn ê a đọc từng chữ, nay nhiều chiến sĩ đã đọc được sách báo. Tôi cùng anh Hòa phấn khởi vô cùng.

Ngày 20-11 năm ấy, trung đoàn và lớp học có tổ chức liên hoan chúc mừng các thầy giáo trẻ. Thật xúc động khi chúng tôi không học qua sư phạm ngày nào mà nay được tôn vinh nhân ngày nhà giáo. Bữa liên hoan thật giản dị. Anh Sơn, Phó chủ nhiệm chính trị trung đoàn hì hục cả buổi sáng làm được 5kg kẹo lạc thật giòn, thật ngon. Bữa liên hoan thật đầm ấm với kẹo lạc, sắn luộc, nước chè xanh và những lời chúc mừng của các học trò. Tôi cảm động không nói nên lời!

Đã đến lúc kết thúc, chúng tôi chia tay các học trò về đơn vị để chuẩn bị đi B. Các đồng đội trẻ của tôi đã đọc thông viết thạo, có mấy chiến sĩ đã viết được thư gửi về cho gia đình. Có lẽ đấy là những phần thưởng xứng đáng nhất cho chúng tôi.

Năm 1972, cuộc chiến còn đang rất khốc liệt. Học trò của tôi phấn khởi lên đường ra trận. Chiến tranh đã lùi xa, không biết nay ai còn, ai mất. Tôi rất mong có một ngày được gặp lại các chiến sĩ. Học trò ngày ấy giờ chắc cũng xấp xỉ "U70". Có ai đọc được những dòng này, xin hãy liên hệ với chúng tôi...

Năm 1972, cuộc chiến còn đang rất khốc liệt, học trò của tôi phấn khởi lên đường ra trận. Chiến tranh đã lùi xa, không biết nay ai còn, ai mất. Tôi rất mong có một ngày được gặp lại họ.

PHAN THANH TÚC