Cục Kiến thiết cơ bản ngày đó đóng tại khu tập thể Nam Đồng, Hà Nội. Đôi lần trong các cuộc họp của đơn vị, tôi được nhìn từ xa Đại tá, Cục trưởng Đào Hữu Liêu. Đó là một người tầm thước, nước da ngăm đen, lúc nói thì chậm rãi, khúc chiết, đặc giọng Quảng Bình. Anh bạn học cùng trường, nhập ngũ trước tôi vài năm, lúc đó đã đeo hàm trung úy, bảo: Thủ trưởng Đào Hữu Liêu chuyên môn sâu lắm. Ông tốt nghiệp trường cao đẳng giao thông công chính thời Pháp. Nhập ngũ từ Trường Thanh niên tiền tuyến ở Huế, bạn học với ông giờ hầu hết là cấp tướng. Trước khi về đây, ông là Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Binh chủng Công binh...

leftcenterrightdel
Thiếu tướng Đào Hữu Liêu. Ảnh tư liệu

Thường thì tôi chỉ được làm việc trực tiếp với cấp cao nhất là trưởng phòng, nhưng lần ấy tôi thực hiện đề tài thiết kế một máy cưa cắt đá ong làm vật liệu xây doanh trại cho Tỉnh đội Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), Cục trưởng Đào Hữu Liêu cũng muốn nghe trình bày. Khi tôi giới thiệu xong thiết kế tổng thể chiếc máy, Cục trưởng Đào Hữu Liêu hỏi ngay: “Lưỡi cắt có đính hạt hợp kim kiểu này làm việc sẽ mau mòn, anh biết tại sao không?”. Tôi đớ người, trả lời là góc cắt đã được tra theo bảng, phù hợp với độ cứng, độ mài mòn của đá ong. Ông cười bảo: “Lý thuyết là vậy. Hồi làm sân bay Yên Bái, tôi cũng từng cho chế tạo một máy cắt đá máp đen (black marble) làm vật liệu ốp lát, đá ấy cứng hơn đá ong một chút, nên chọn góc cắt nhỏ hơn là thích hợp”. Tôi thực sự bất ngờ, rồi khi tính toán lại mới tâm phục khẩu phục. Thì ra kiến thức của cục trưởng rất rộng, không chỉ trong thiết kế sân bay, hầm ngầm, doanh trại..., ông còn quan tâm cả đến những lĩnh vực khác như cơ khí, động lực, vật liệu xây dựng. Sau đó, tôi kể cho anh bạn ở phòng thiết kế tổng hợp nghe câu chuyện bị thủ trưởng Liêu chất vấn, thì anh bạn còn bảo: Hồi làm sân bay Yên Bái, bọn trợ lý kỹ thuật chúng mình đi theo “cụ”, cũng luôn bị quay chóng mặt. Nhiều năm rời ghế nhà trường rồi mà “cụ” vẫn nhớ vanh vách các hệ số giãn nở, ứng suất cho phép của các loại vật liệu xây dựng hay kim loại dùng trong kết cấu công trình...

Một lần tôi được đi công tác cùng Đại tá, Cục trưởng Đào Hữu Liêu. Trong sinh hoạt đời thường, ông là người giản dị, dễ gần. Ông vẫn nhớ chiếc máy của tôi thiết kế, hỏi đã đưa vào sản xuất chưa? Tôi nói sau khi mài sửa lại lưỡi cưa cắt theo ý thủ trưởng, đã bàn giao toàn bộ thiết bị cho Ban Doanh trại, Tỉnh đội Hà Tây, triển khai sản xuất thế nào chưa thấy báo lại. Ông cười: “Con đẻ của mình thì phải quan tâm, chứ khi triển khai thực tế thường dễ bị mang con bỏ chợ lắm” (sau này tôi có dịp đến Hà Tây, quả như dự báo của cục trưởng, cái máy của tôi khai thác được một số viên đá ong rồi bỏ xó). Nhân lúc được gần thủ trưởng, tôi hỏi ông về quãng thời gian tham gia cách mạng ở Thừa Thiên-Huế. Ông vui vẻ kể là, quê gốc ông ở Lộc Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình. Trước cách mạng, ông học Trường Quốc học Huế, rồi ra Hà Nội học cao đẳng cầu đường. Rục rịch Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, ông đang trong Trường Thanh niên tiền tuyến. Đây là trường huấn luyện quân sự thuộc bộ thanh niên của chính phủ Trần Trọng Kim, nhưng dẫn dắt ngay từ đầu là hai trí thức yêu nước theo Việt Minh: Phan Anh và Tạ Quang Bửu. Đến khi cách mạng thành công, học sinh của trường người thì Nam tiến, người sang giúp bạn Lào hoặc ra Bắc bổ sung cho quân đội, hầu hết sau này đều tiến bộ, trở thành những cán bộ cao cấp của quân đội. Ông được kết nạp Đảng tháng 1-1950 và lần lượt đảm nhiệm các cương vị là: Trung đoàn phó Trung đoàn 151 công binh (1951), Chủ nhiệm Hậu cần Đại đoàn 351 (1952), Trưởng ban Tác huấn Cục Công binh (1954).

leftcenterrightdel
Thiếu tướng Đào Hữu Liêu (hàng trước, thứ tư, từ trái sang) trong buổi họp mặt bạn học Trường Thanh niên tiền tuyến ở Huế (năm 1999). Ảnh tư liệu

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến giai đoạn đòi hỏi Quân đội ta phải có các sân bay quân sự chuyên dụng, phục vụ bộ đội không quân được trang bị máy bay phản lực hiện đại. Bộ Tổng Tham mưu lập ra Ban Nghiên cứu sân bay, đơn vị đóng tại sân bay Gia Lâm, Thiếu tướng Trần Quý Hai làm Trưởng ban; Thượng tá Đào Hữu Liêu là Trưởng phòng Công trình sân bay. Các sân bay Yên Bái, Sao Vàng (Thanh Hóa), Đa Phúc (Hà Nội)... đều được Phòng Công trình sân bay thiết kế, là những sân bay quân sự hạng nặng đầu tiên của Quân đội ta. Ngày đó tài liệu chuyên môn rất ít, vả lại ông học về cầu đường, một lĩnh vực khác hẳn sân bay. Vậy nên khi tính toán thiết kế sân bay, phải vận dụng sáng tạo, linh hoạt. Trước hết là dùng những nguyên lý chung về tính sức bền vật liệu, kết cấu thép bê tông liên hợp, rồi tìm đọc thêm tài liệu nước ngoài, chủ yếu bằng tiếng Pháp, tiếng Nga áp dụng vào tính toán, thiết kế đường cất hạ cánh. Ngày ấy chỉ toàn tính tay trên giấy, hay rút thước tính, tra bảng... Anh em trong phòng ai cũng làm việc hăng say và đầy trách nhiệm. Trưởng phòng phải có kiến thức chuyên môn hơn anh em một “cái đầu” thì mới duyệt được bản vẽ thiết kế, nhiều khi phải tính lại để kiểm tra, bảo đảm kết quả đạt được là chắc chắn. Hoàn thành bản thiết kế kỹ thuật rồi, đưa xuống hiện trường, người thiết kế phải cùng người thi công bàn thảo phương án thi công làm sao đạt được các thông số kỹ thuật cơ bản của đường băng. Thời kỳ làm sân bay Yên Bái, cán bộ kỹ thuật thiết kế, thi công sân bay thực sự trở thành những người lính ra trận. Máy bay Mỹ đã nhiều lần ném bom công trường. Trên mặt đất vừa khắc phục hậu quả, bảo toàn lực lượng, còn trên bầu trời đã diễn ra các trận không chiến ác liệt giữa không quân ta và không quân Mỹ, bên cạnh đó còn có tên lửa, pháo cao xạ giúp sức. Trong suốt hơn nửa năm thi công sân bay, ta đã hạ tại chỗ và bắn bị thương nhiều máy bay địch, bảo vệ được công trình. Kết quả là vào những năm cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, các sân bay quân sự đã lần lượt được đưa vào sử dụng đúng kế hoạch, bảo đảm chất lượng, giúp cho bộ đội phòng không-không quân đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của giặc Mỹ. Ngoài thiết kế sân bay, kỹ sư Đào Hữu Liêu sau này về Tổng cục Hậu cần còn trực tiếp chỉ đạo ngành kiến thiết cơ bản xây dựng nhiều công trình ngầm, cải tạo những hang động làm kho chứa khí tài, vũ khí và xây dựng doanh trại cho các quân khu, quân đoàn trong điều kiện bộ đội vừa huấn luyện vừa cơ động chiến đấu...

Sau ngày nước nhà thống nhất, Cục Kiến thiết cơ bản sáp nhập với Bộ đội Trường Sơn thành Tổng cục Xây dựng kinh tế, Cục trưởng Đào Hữu Liêu được đề bạt Phó chủ nhiệm Tổng cục. Tôi công tác ở đơn vị mới thêm một thời gian nữa, đến năm 1979 được điều về Tổng cục Chính trị, làm việc ở Báo Quân đội nhân dân. Cuối năm 1984, tôi có dịp gặp lại thủ trưởng của mình tại nhà riêng của ông ở 39 Lý Nam Đế, Hà Nội, lúc này ông đã đeo quân hàm thiếu tướng. Thầy trò gặp lại nhau, thầy ở tuổi ngoài 65, trí nhớ vẫn tuyệt vời. Biết tôi đã chuyển sang làm báo, ông cười bảo: “Mình cũng là nhà báo đấy nhá, thỉnh thoảng vẫn viết bài cho tạp chí chuyên ngành kỹ thuật quân sự”. Hơn chục năm sau, vị tướng già mẫn tiệp ấy bị tai biến mạch máu não, nằm liệt giường một thời gian rồi về trời một ngày giữa năm 2005, hưởng thọ 86 tuổi.

PHẠM QUANG ĐẨU