LTS: Chiến dịch Đắc Tô diễn ra từ ngày 3 đến 22-11-1967, được phía Mỹ xem là một trong những cuộc đụng độ nghiêm trọng nhất trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Về phía Mỹ, đây là chiến dịch mang tên Mác Ác-thơ (MacArthur), với các trận đánh trên các ngọn đồi 1338, 664, 830, 882 (nam và đông nam Đắc Tô)... và nhất là trận đánh tại đồi 875...   

Dưới đây là trang tư liệu của Đại học Đông Michigan (East Michigan University) thuộc Danh mục lịch sử chiến tranh (War History) viết về trận đánh đồi 875 dưới dạng sử biên niên. 

Lời dẫn

Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hòa đã hiệp đồng tác chiến nhiều tháng nay để kiểm soát vùng được gọi là cao nguyên Trung phần. Quân đội Hoa Kỳ và quân đội Sài Gòn đồ rằng ngọn đồi có độ cao 875m này là điểm cao khống chế đối với những tuyến chính yếu được Bắc Việt sử dụng để vận chuyển hàng tiếp tế và hành quân. Rằng, nếu chiếm được đồi 875, có thể chặn được nguồn nhân lực, vật lực từ Bắc Việt được chuyển dọc theo đường biên giới vào Nam Việt Nam.

Chiến thuật của quân Mỹ

Kế hoạch tác chiến ban đầu là Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn không vận 173 sẽ tiến dần lên đỉnh theo đội hình tam giác. Không lực Mỹ sẽ yểm hộ cho bộ binh hành tiến bằng không kích nhằm tiêu diệt thật nhiều quân Bắc Việt (Quân Giải phóng), làm giảm sức đề kháng của đối phương đối với Tiểu đoàn 2.

Ngày 23-11-1967, lính thuộc Trung đoàn không vận 173 tiến lên đỉnh đồi 875, bên đường là xác lính Mỹ tử trận. Ảnh: Corbis

Diễn biến trận đánh

Ngày thứ nhất (19-11-1967)

Khi Tiểu đoàn 2 lên tới những sườn núi ven cao điểm 875, họ đã lọt vào hỏa lực dày đặc của đối phương, sử dụng súng bộ binh, RPG (B40), và lựu đạn. Cuộc chiến đấu diễn ra ở cự ly gần đến mức xảy ra giáp lá cà. Tiểu đoàn 2 quân Mỹ sẽ phải đánh nhau suốt gần 2 ngày tới, mới có viện binh đến.

Ngày thứ hai

Tiểu đoàn 4/173 Mỹ được không vận đến dãy đồi cạnh cao điểm 875, tiến lên hợp quân với Tiểu đoàn 2, lúc này đã chịu nhiều thương vong. Quân Tiểu đoàn 4 tiến trên con đường mòn rải đầy xác lính Mỹ và cả tử sĩ của đối phương.

Ngày thứ ba

Vừa rạng đông, quân Bắc Việt dùng súng cối bắn vào vị trí đóng quân của Mỹ. Quân Bắc Việt đã xây dựng từ trước một hệ thống hỏa lực với các tuyến bắn phối hợp tinh vi. Họ đã điều khiển hỏa lực để tạo ra một giải bắn có tác dụng thu hút sự chú ý của quân Mỹ, giúp cho một số bộ đội Việt Nam có thể bí mật luồn vào phía sau đội hình quân Mỹ đã ở trên đỉnh đồi. Chiến thuật nghi binh này sẽ còn phát huy hiệu quả trong suốt ngày thứ tư.

Ngày thứ tư

Buổi sáng lại bắt đầu với trình tự giống như ngày hôm trước, với hỏa lực súng cối và súng bộ binh của quân Bắc Việt.

Quân Mỹ nhận được lệnh trên cho phép rút khỏi đỉnh đồi tới một tọa độ cho trước, triển khai một vành đai phòng ngự tại đó, chờ viện binh đến.

Vì quân Mỹ trong hầm bị bao vây bởi quân Bắc Việt, họ không thể dự đoán liệu tình hình sẽ còn xấu đi tới mức nào. Một phi công Mỹ nhận lệnh của Chỉ huy không lưu (Air Control) tới ném bom đồi 875 ở tọa độ sao cho có thể quan sát được bom na-pan nổ.

Viên phi công bị đèn chiếu làm lóa mắt và đã chọn sai hướng tiếp cận khi bổ nhào xuống đồi 875.

Hướng tiếp cận do viên phi công Mỹ chọn sẽ khiến quả bom rơi vào vị trí mà Tiểu đoàn 2 và 4 Mỹ đang đứng chân.

Vì vậy, khi quả bom được ném xuống đã nổ đúng vào trận địa của quân Mỹ, quét sạch gần như toàn bộ sinh lực của Mỹ tại đó.

Tôm Ri-minh-tơn (Tom Remington), một lính Mỹ thuộc Tiểu đoàn 2 sợ rằng bom sẽ tiếp tục được ném xuống, đã điên cuồng vồ lấy một điện đài, gọi về căn cứ, thét lên: “Hãy dừng ngay những cái máy bay bỏ mẹ kia. Không được để chúng tiếp tục ném bom. Chúng đang giết hết chúng tôi ở đây”.

Những ai còn sống sót sau quả bom ném nhầm đã bồn chồn, lo lắng suốt cả đêm, lo quân Bắc Việt sẽ đến. Theo cựu binh Mỹ Rốc-ki, họ đã bàng hoàng khi cả đêm chờ thời khắc quân Bắc Việt tiến vào vị trí của Mỹ. Nếu điều này xảy ra, số lính Mỹ kẹt lại trên ngọn đồi sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn.

Ngày thứ năm (23-11-1967)

Buổi sáng hôm sau không khác gì nhiều so với những ngày hôm trước, khi quân Bắc Việt vẫn nổ những loạt súng bộ binh ngắn, Tình thế này vẫn làm dấy lên một câu hỏi, phải chăng họ (bộ đội Việt Nam) định chờ trời sáng, để tới diệt hết quân Mỹ, trước khi viện binh Mỹ đến kịp.

Những lính Mỹ còn sống sót sau trận đồi 875 đến hôm nay vẫn đang khắc khoải tự hỏi, vận may nào đã cứu họ thoát khỏi vòng tay tử thần đêm 22-11 ấy.

Viện binh Mỹ đến lúc đã gần trưa, để sơ tán những lính bị thương và thu gom xác lính Mỹ tử trận. Viện quân cũng có nhiệm vụ hoàn thành nốt các công việc mà Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 4 đã bắt đầu.

Trong khi đại quân Mỹ vô hiệu hóa một số hỏa điểm thưa thớt còn sót lại, những cuộc chạm súng lớn đã không xảy ra. Quân Bắc Việt đã rút về hậu cứ ở vùng ngã ba biên giới (Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia). Trận đánh trên đồi 875 đã mở đường cho cuộc chiến tranh giành các ngọn đồi trên khắp Tây Nguyên về sau.

Theo cựu binh Mỹ Ray Smít thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn thiết giáp 69, trong số 570 lính Mỹ tham chiến trên đồi 875 đã có 340 lính (đúng 60%) bị loại khỏi vòng chiến. Nhiều người khác bị thương.

Thời hậu chiến

Cho đến nay một số kênh truyền thông phương Tây vẫn đặt câu hỏi vì sao một loạt trận đánh lại dấy lên ở những ngọn đồi không đóng vai trò rõ rệt trên bản đồ chiến lược của Tướng Giáp.

Trong hồi ký “Tường trình của một quân nhân”, trang 280, tướng Oét-mo-len cho rằng lúc đó quân Mỹ đã đánh lui được quân địch ra khỏi những ngọn đồi này, rằng quân Bắc Việt không thu được gì (The enemy’s return was nil).

Nhưng học giả Mỹ cho rằng tướng Oét đã “bắn trượt” (missed the point). Theo Ét-uốt mớc-phi, trong Cuộc chiến trên những ngọn đồi (The Hill Fights. NXB Ballentine Books, 2003, tr. 235) “cho đến tháng giêng 1968 (trước chiến cuộc Tết Mậu Thân), nửa số lực lượng cơ động của Mỹ ở Nam Việt Nam đã bị hút ra khỏi các thành thị và vùng đồng bằng vào các hoạt động chiến đấu ở các vùng đồi núi biên cương”. Trong chiến dịch Đắc Tô, theo truyền thông phương Tây, đã có 16.000 lính Mỹ tham chiến chống lại 6000 quân Bắc Việt.

Truyền thông phương Tây không nghĩ rằng chiến dịch Đắc Tô của Quân Giải phóng chỉ thuần túy là đòn nghi binh. Theo hãng thông tấn AP (Mỹ), trong 21 ngày thực hiện chiến cuộc ở Đắc Tô tháng 11-1967, đã có ít nhất 285 lính Mỹ tử trận.

Lê Đỗ Huy (dịch)