hiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Bạo. Ảnh: HỒNG GIANGQĐND - Cách đây vừa tròn 70 năm, Toàn quốc kháng chiến đã nổ ra, cả dân tộc anh dũng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, chiến đấu giành thắng lợi vẻ vang. Nhân sự kiện lịch sử này, Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng đã có cuộc đối thoại với Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Bạo, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam.

leftcenterrightdel
Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Bạo. Ảnh: HỒNG GIANG

Những “nín nhịn” và bước nhân nhượng cuối cùng

Phóng viên (PV): Thưa đồng chí, 70 năm, sau nhiều biến cố của lịch sử dân tộc, nhìn lại, càng thấy rõ hơn giá trị và bài học của sự kiện ngày Toàn quốc kháng chiến. Nhưng có một thực tế là thế hệ hôm nay thật khó để hình dung đầy đủ về bối cảnh lịch sử trước khi ta phát lệnh nổ súng vào tối 19-12-1946, một giai đoạn có thể nói là rất đặc biệt của nền dân chủ cộng hòa (DCCH) nước ta?

Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Bạo: Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam DCCH ra đời, lần đầu tiên trên thế giới, một nước bị thực dân đô hộ đã giành được độc lập. Tính chất triệt để của cuộc cách mạng, cũng như vị trí địa lý của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới là những nhân tố khiến cho các thế lực đế quốc và phản động quốc tế quan tâm và lo ngại. Bởi vậy, trong và sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, nhiều kẻ thù bên ngoài câu kết với nhau, cùng bọn phản động bên trong chống phá cách mạng Việt Nam.

Trong khi đó, Nhà nước non trẻ đang phải đối mặt với nhiều khó khăn do chế độ cũ để lại, nạn đói chưa chấm dứt thì lũ lụt, tiếp đến hạn hán, nguy cơ một nạn đói nữa lại xảy ra, đời sống nhân dân còn hết sức khó khăn, ngân quỹ quốc gia gần như trống rỗng, lực lượng vũ trang còn non yếu, chính quyền cách mạng chưa được củng cố, hệ thống tổ chức đảng chưa được thống nhất... Ba tuần sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp đã nổ súng tấn công Sài Gòn, mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai, tiếp đó mở rộng đánh chiếm Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Đảng ta vừa lãnh đạo cuộc kháng chiến ở miền Nam vừa đối phó với quân Tưởng và ra sức xây dựng, củng cố thực lực cách mạng ở miền Bắc.

Với mong muốn có cuộc sống hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những biện pháp nhằm tranh thủ mọi điều kiện quốc tế để loại trừ mầm mống chiến tranh. Người đã tiến hành nhiều giao thiệp ngoại giao qua thư, công hàm… với người đứng đầu chính phủ các nước lớn như Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Hoa dân quốc, Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc… thông báo về sự ra đời của nước Việt Nam DCCH và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Đối với nước Pháp, chúng ta đã bày tỏ mong muốn xây dựng quan hệ thân thiện giữa hai nước Việt Nam và Pháp; khẳng định sẵn sàng tôn trọng những quyền lợi kinh tế, văn hóa, quân sự của Pháp trên đất Việt Nam. Tuy nhiên, do lợi ích của chủ nghĩa thực dân và hoàn cảnh quốc tế chi phối nên nguyện vọng của nhân dân ta không được đáp ứng. Thực dân Pháp ngày càng tỏ rõ âm mưu dùng sức mạnh quân sự để xâm chiếm toàn bộ nước ta.

PV: Nghĩa là, khi ấy chúng ta muốn tránh đổ máu, tìm mọi cách để đẩy lùi cuộc chiến tranh. Những hành động cụ thể nào chứng minh nỗ lực của Chính phủ Hồ Chí Minh trong thiện chí giữ gìn hòa bình, tránh xung đột?

Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Bạo: Phải chịu nhiều gian khổ, hy sinh, nhân dân ta mới giành lại được độc lập, nên dân tộc Việt Nam không hề muốn có chiến tranh. Để bảo vệ độc lập và chính quyền còn non trẻ, nhân dân ta đã hết sức tự kiềm chế. Khi 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc tràn ngập miền Bắc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “nín nhịn” chấp nhận những điều khoản vô lý như: Hằng tháng phải cung cấp gạo, trong khi đồng bào ta đang đói; nhường ghế trong Quốc hội không thông qua bầu cử... Dù chiến tranh đã nổ ra ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ nhưng ngày 12-11-1945, Chính phủ Việt Nam DCCH gửi thư cho đại diện Pháp ở Đông Dương đề nghị ngừng bắn và công nhận Việt Nam độc lập. Đổi lại, phía Việt Nam nhượng bộ cho Pháp những quyền lợi về kinh tế, văn hóa ở Đông Dương; tiếp đó gửi thư đề nghị lãnh tụ các đảng phái lớn ở Pháp ngăn chặn chiến tranh, công nhận độc lập của Việt Nam và tỏ ý sẵn sàng gặp Cao ủy Pháp ở Đông Dương để xúc tiến thương lượng chính thức. Tuy vậy, phía Pháp đã bỏ qua những đề xuất của Việt Nam, mà trong các cuộc đàm phán với Chính phủ Việt Nam DCCH đầu năm 1946 và qua các cuộc tiếp xúc với các quan chức ngoại giao Mỹ, họ khẳng định duy trì chế độ thực dân trên khắp nước ta. Họ còn đàm phán với quân Tưởng để đưa quân Pháp ra miền Bắc. Trước tình thế đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, cho phép Pháp đưa 15 nghìn quân ra miền Bắc. Bất chấp hiểm nguy, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, tìm nhiều giải pháp để duy trì hòa bình và thương lượng với Chính phủ Pháp. Trong tình thế bắt buộc, Người đã ký Tạm ước 14-9, chấp nhận những nhân nhượng cho Pháp quyền lợi về kinh tế, văn hóa. Đó là những bước nhân nhượng cuối cùng của Việt Nam DCCH, một cố gắng nhằm cứu vãn hòa bình, dù thấy trước nguy cơ khó tránh khỏi của chiến tranh. Ngay cả khi chiến tranh đã cận kề, ngày 13-12-1946, Hội nghị các khu trưởng quân đội Việt Nam họp tại Hà Đông để triển khai nhiệm vụ quân sự, thống nhất chủ trương tiến hành kháng chiến, nhưng vẫn lưu tâm đến tinh thần “tranh thủ khả năng hòa bình”.

leftcenterrightdel
 Những chiến sĩ quyết tử ở ngã ba Lương Yên, Hà Nội (tháng 1-1947). Ảnh tư liệu

Quyết định lịch sử và bài học thời sự

PV: Việc ta phát lệnh nổ súng vào tối 19-12 và kìm chân địch ở Hà Nội trong hai tháng có làm cho đối phương bị bất ngờ không? Và, cuộc lui quân “thần kỳ” của Trung đoàn Thủ Đô vào đêm 17-2-1947 có ý nghĩa như thế nào?

Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Bạo: Việc ta nổ súng phát động Toàn quốc kháng chiến vào đêm 19-12-1946 đã gây cho địch bất ngờ. Khi quân Pháp đang tìm kiếm cơ hội đánh ta trước, đẩy ta vào thế bị động đối phó thì nhân dân ta đã không cho chúng có cơ hội ấy. Khi phía Pháp đã từ chối thiện chí hòa bình, quyết dùng sức mạnh quân sự để xâm lược nước ta, buộc chúng ta phải lựa chọn giải pháp chiến tranh thì việc tiến công trước là biện pháp tốt nhất để tạo thế chủ động cho toàn bộ cuộc kháng chiến của dân tộc. Với đòn tấn công phủ đầu, chúng ta đã làm cho thực dân Pháp từ thế chủ động chiến lược chuyển sang thế bị động đối phó và phải đánh theo cách đánh của ta. Đó là nét đặc sắc trong nghệ thuật mở đầu Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của Đảng, của quân và dân ta. Đó cũng là một trong những yếu tố để chúng ta giành thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công mở đầu cuộc chiến tranh cách mạng, giam chân địch trong thành phố dài ngày hơn so với thời gian dự kiến; Hà Nội 60 ngày, Nam Định 86 ngày... Đây cũng là bất ngờ với phía Pháp, bởi các nhà chỉ huy quân đội viễn chinh “không hiểu nổi” đối phương dù quá bất lợi về lực lượng, Việt Nam vẫn quyết nổ súng tấn công ngay tại đô thị và cầm cự lâu dài, tiêu hao nhiều sinh lực của chúng.

Hơn nữa, vừa đánh, chúng ta vừa phát triển lực lượng, chưa đầy một tháng sau chiến đấu, ngày 6-1-1947, Trung đoàn Liên khu 1 (Trung đoàn Thủ Đô) ra đời trong vòng vây quân thù; sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu đã thực hiện cuộc lui quân “thần kỳ”, đưa cả một trung đoàn và nhân dân vượt qua vòng vây quân Pháp một cách an toàn, khiến cho các nhà quân sự thực dân càng “không thể hiểu nổi”. Đó chính là sự thể hiện rõ nhất tư tưởng trường kỳ kháng chiến, càng đánh càng mạnh, tiến tới mạnh hơn đối phương để giành thắng lợi. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã chứng minh điều đó.

PV: Chúng tôi thử đặt một giả thiết, nếu như chúng ta không nổ súng vào tối 19-12-1946 thì tình huống tiếp theo có thể diễn ra như thế nào?

 Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Bạo: Lịch sử không có từ “nếu như”, “giá như” vì nó đã diễn ra rồi. Nhưng như tôi đã nói ở trên, đến thời điểm ngày 19-12, với mong muốn hòa bình và có thời gian để chuẩn bị lực lượng, Chính phủ Hồ Chí Minh đã có những nhân nhượng rất lớn, có thể nói không thể nhân nhượng hơn được nữa. Tuy vậy, “chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”. Chúng láo xược gửi “tối hậu thư” đòi tước vũ khí quân tự vệ Hà Nội, đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị kháng chiến, trao cho quân đội Pháp nhiệm vụ duy trì an ninh thành phố Hà Nội. Pháp tuyên bố nếu các yêu cầu trên không được Chính phủ Việt Nam chấp nhận thì chậm nhất vào sáng 20-12-1946 quân Pháp sẽ hành động. Tình thế nghiệt ngã đó buộc Bác Hồ và Đảng ta phải có lựa chọn đúng đắn, kịp thời và quyết định nổ súng ngay tối 19-12. Vì để sau ngày hôm đó, chúng ta có thể sẽ rơi vào thế bị động đối phó và gặp nhiều bất lợi...

PV: Trong nhiều bài học lịch sử từ sự kiện ngày Toàn quốc kháng chiến, theo đồng chí thì đâu là bài học quan trọng nhất? Ý nghĩa của bài học đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay?

Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Bạo: Nắm chắc âm mưu của kẻ thù, chủ động chuẩn bị thực lực, phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân, chủ động đưa cả nước bước vào cuộc kháng chiến, giành những thắng lợi trong cuộc tổng giao chiến đầu tiên tạo cơ sở, tiền đề cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và cho cả 30 năm chiến tranh giải phóng, là một trong những bài học lớn mà Toàn quốc kháng chiến để lại.

Trong giai đoạn hiện nay, vận dụng bài học từ Toàn quốc kháng chiến, chúng ta cần nâng cao cảnh giác, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng Đảng và chính quyền ngày càng vững mạnh, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng nền an ninh nhân dân vững mạnh, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân, nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc… Đó chính là phát huy được sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!                 

HOÀNG TIẾN - VIỆT HÀ (thực hiện)