Tại Đại hội Thi đua Quyết thắng Quân khu 4 năm 1972, đơn vị đã giành được “4 nhất”: Bắn rơi nhiều máy bay nhất; nhiều cái rơi tại chỗ nhất; tiêu diệt và bắt sống nhiều giặc lái nhất; tiết kiệm nhiều đạn nhất. Đơn vị vinh dự được Đại tướng Võ Nguyên Giáp hai lần trực tiếp tới thăm và động viên: “Mong lực lượng phòng không có nhiều đơn vị như thế!”. Đơn vị ấy là Trung đoàn 233 Pháo cao xạ, với mật danh Đoàn Đống Đa.

Trung đoàn 233 là một trong số các trung đoàn được cấp trên giao nhiệm vụ độc lập tác chiến. Cơ động nhiều, chiến trường rộng, việc bảo đảm cho bộ đội cũng như vận chuyển vũ khí, khí tài hành quân trên đường gặp nhiều khó khăn nhưng trung đoàn đều hoàn thành nhiệm vụ. Đại tá Lê Trung Lạc, nguyên Chính ủy trung đoàn (1966-1970) cho biết: Ngày 29-1-1966, Trung đoàn 233 thuộc Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân được thành lập với 5 đại đội, có giai đoạn được tăng cường biên chế tới 6 tiểu đoàn pháo cao xạ, gồm các loại pháo: 57mm, 37mm 1 nòng, 2 nòng, tên lửa vác vai tầm nhiệt... “Những ngày đầu, chúng tôi vừa kiện toàn tổ chức biên chế, chuẩn bị cơ sở vật chất hậu cần, vừa tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng tiểu đội trưởng, khẩu đội trưởng để đáp ứng yêu cầu hành quân chiến đấu hiệp đồng trong mọi tình huống. Và chỉ gần hai tháng sau, chúng tôi đã nhận nhiệm vụ cơ động chiến đấu”-Đại tá Lê Trung Lạc kể.

leftcenterrightdel
Đại đội 6, Trung đoàn 233 sau trận đánh ngày 9-10-1966. Ảnh tư liệu.

Nhớ lại ngày ấy, các cựu chiến binh (CCB) Trung đoàn 233 năm xưa vẫn không khỏi bồi hồi. Khi về công tác tại trung đoàn, họ đều là những anh lính trẻ từ nhiều đơn vị khác nhau. Khó khăn, thiếu thốn mọi bề, không có nhiều thời gian củng cố, xây dựng lực lượng lại phải ra trận địa ngay vì đây là thời điểm đế quốc Mỹ tăng cường ném bom leo thang ra miền Bắc nên khó càng thêm khó. Thời gian này, mọi hoạt động của trung đoàn do Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân trực tiếp chỉ huy. Ngày 10-3-1966, Trung đoàn 233 chính thức nhận nhiệm vụ cơ động chiến đấu, bảo vệ các trọng điểm giao thông, mục tiêu kinh tế quan trọng như: Nhà máy Điện Uông Bí, Nhà máy Điện Cọc 5, Kho xăng H6, Sân bay Nội Bài... với những trận đối đầu nảy lửa với không quân Mỹ.

Tại buổi gặp mặt mới đây, các CCB nhắc nhiều tới trận giáp chiến với máy bay Mỹ ngày 9-10-1966 tại thị xã Phủ Lý (nay là thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam) với nhiều kỷ niệm khó quên về tinh thần chiến đấu quên mình của đồng đội. Hôm ấy, địch đưa nhiều tốp máy bay tập trung đánh phá thị xã, trong đó có khu vực cầu Phủ Lý do Đại đội 6 phụ trách. “Chính trị viên Mai Văn Hợi bình tĩnh tới từng khẩu đội kiểm tra, động viên chiến sĩ quyết đánh thắng địch ngay từ loạt đạn đầu. Và khi mục tiêu đã vào tầm bắn, Đại đội trưởng Lê Phú Lộc dõng dạc hạ lệnh cho các khẩu đội. Cả trận địa gầm lên những loạt đạn giòn giã cùng các trận địa khác của trung đoàn và lực lượng phòng không khu vực cản phá có hiệu quả nhiều đợt đánh phá điên cuồng của máy bay Mỹ. Không phá được cầu, chúng hướng vào các trận địa phòng không của ta. Trong khói bom đạn mù mịt, bộ đội kiên cường bám pháo đánh trả quyết liệt”-CCB Ngô Kiên Định, nguyên chiến sĩ thông tin Đại đội 6 (hiện sống tại Lương Tài, Bắc Ninh) nhớ lại. Hình ảnh Đại đội trưởng Lê Phú Lộc bình tĩnh quan sát, hạ lệnh cho bộ đội bám sát mục tiêu, nhả đạn; Chính trị viên Mai Văn Hợi xông xáo đến các khẩu đội động viên anh em và giải quyết thương binh, tử sĩ vẫn hiện lên mồn một theo lời kể của ông Định và đồng đội. Nhất là tình huống Chính trị viên Mai Văn Hợi dù đã bị thương nặng, hai tay giập nát, được Ngô Kiên Định và hai đồng chí khác cáng ra xe đưa đi cấp cứu vẫn cố nói: “Đồng chí Định hãy nói với đồng chí Ngoạn (Chính trị viên phó Đại đội 6-NV), động viên anh em còn lại hãy giữ vững ý chí chiến đấu. Giặc Mỹ không có gì đáng sợ, hãy theo gương anh Nguyễn Viết Xuân, nhằm thẳng quân thù mà bắn!”.

Sau này tổng kết, chỉ tính riêng ngày 9-10 ấy, ta đã đánh trả 3 đợt tập kích của hơn 100 lần chiếc A4, F4 của hải quân Mỹ nhằm vào thị xã Phủ Lý và áp chế các trận địa của Trung đoàn 233. Các lực lượng cao xạ đã chiến đấu dũng cảm, giữ vững được trận địa, bắn rơi 2 máy bay Mỹ, 1 chiếc rơi tại chỗ và bắt sống 1 giặc lái. Sau trận đánh, Bác Hồ đã gửi thư động viên bộ đội, nhất là hai cán bộ của Đại đội 6 và trao Huy hiệu của Người tặng đồng chí Mai Văn Hợi...

Sau trận đánh đó, tiếp tục bảo vệ Hà Nội trong đội hình Sư đoàn Phòng không 361 một thời gian, năm 1968, Trung đoàn 233 được lệnh tăng cường cho lực lượng phòng không Quân khu 4. Suốt quá trình chiến đấu và trưởng thành, trên các chiến trường từ Đông Bắc, Việt Bắc, Hà Nội, Quân khu 3, Quân khu 4, Mặt trận B5-Đường 9-Quảng Trị, trên đất bạn Lào... dù không tránh khỏi tổn thất, với 587 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và bị thương nhưng gần 3.000 cán bộ, chiến sĩ của đơn vị đã vượt qua mọi khó khăn, thách thức để chiến đấu và chiến thắng.

Sau ngày đất nước thống nhất, để phù hợp với điều kiện thực tế, Trung đoàn 233 được giao nhiệm vụ tham gia xây dựng, phát triển kinh tế. Đến năm 1980, trong đội hình Sư đoàn 336 (Quân khu 4), trung đoàn nhận quyết định chuyển đổi thành một doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, chính thức không thuộc biên chế của quân đội. “Dù đơn vị đã giải thể nhưng tinh thần của những chiến sĩ pháo cao xạ vẫn luôn cháy sáng trong trái tim những chiến sĩ Bộ đội Cụ Hồ năm xưa. Chúng tôi đã quy tụ được 400 CCB trên khắp mọi miền đất nước về sinh hoạt dưới một mái nhà chung để giúp nhau vượt khó, vươn lên trong cuộc sống”-Đại tá Nguyễn Duy Ngọc, Trưởng ban liên lạc CCB trung đoàn cho biết. Và những người lính ấy luôn đau đáu tìm về những kỷ niệm ghi dấu chiến công của đơn vị để tôn vinh và tri ân. Hiện nay, Ban liên lạc đang phối hợp cùng Bộ tư lệnh Quân khu 4, Quân chủng Phòng không-Không quân tập hợp thành tích, lập hồ sơ đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho Đoàn Đống Đa năm nào.

SONG THANH