Đại tá, CCB Phan Thượng Trí, nguyên Giám đốc Nhà máy Z121 và ông Nguyễn Huy Sính, nguyên Trưởng phòng Toán-Tin, Viện Địa chất khoáng sản cũng vậy. Là lớp cán bộ đầu tiên của Nha NCKT, dù cả hai đều đã bước đến ngưỡng cửa của tuổi cửu thập, nhưng khi được hỏi về những ngày xưa ấy, hai ông hào sảng kể trong nụ cười mãn nguyện…

leftcenterrightdel
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (ngoài cùng, bên phải) nghe đồng chí Trần Đại Nghĩa, Cục trưởng Cục Quân giới, giới thiệu súng và đạn SKZ do quân giới Việt Nam nghiên cứu chế tạo, trong kháng chiến chống Pháp. Ảnh tư liệu

Câu chuyện với chúng tôi được bắt đầu bằng câu nói của một trong hai người lính già: “Chúng tớ chỉ là những anh lính nhỏ bé chẳng có đóng góp gì lớn lao cả, nhiều đồng chí thành tích xuất sắc lắm. Tiếc là trong số anh em đang sinh hoạt trong Ban liên lạc Nha NCKT giờ không mấy người còn khỏe mạnh và minh mẫn để các cậu có thể gặp. Chuyện người khác không nắm được cụ thể, chúng tớ kể chuyện của chúng tớ thôi nhé!”.

Tiếp lời các CCB, Thượng tá Vũ Văn Huyên, Chính trị viên Viện Vũ khí, cho biết: “Lính quân giới là thế đấy. Họ quyết đoán, dám làm, dám chịu nhưng lại rất khiêm tốn và luôn dành thành tích cho đồng đội”. Anh cũng cho biết thêm, CCB Phan Thượng Trí và Nguyễn Huy Sính, người năm trước, người năm sau về công tác tại Nha NCKT từ những ngày đầu thành lập. Gắn bó với nhau đến nay đã ngót 70 năm, họ là những người hiểu rất rõ về Nha NCKT những năm kháng chiến cũng như sau này. Mặc dù do điều kiện, mỗi người ở cương vị riêng nhưng luôn quan tâm dõi theo từng bước phát triển của đơn vị.

Cùng chúng tôi, Chính trị viên Vũ Văn Huyên dù bận công tác vẫn dành nhiều giờ đồng hồ ngồi bên, dõi theo lời kể của các CCB trở lại những ngày tháng miệt mài nghiên cứu nơi núi rừng Việt Bắc...

“Có bị thương, cũng chỉ là tay trái”

Khoảng đầu năm 1948, theo lời động viên của hai huynh trưởng hướng đạo sinh là Hoàng Đạo Thúy và Tạ Quang Bửu, Phan Thượng Trí lên Chiến khu Việt Bắc, tham gia cách mạng, rồi được phân công về Phòng Hóa chất thuộc Nha NCKT. “Hồi ấy, anh Phạm Đồng Điện là Trưởng phòng, anh Nguyễn Đức Thừa là Phó trưởng phòng. Các anh căn dặn chúng tôi nhiều điều, nhưng nhớ nhất là phải học thật nhiều về vũ khí vì đế quốc không mở trường dạy ta. Đặc biệt, phải rèn cho mình tác phong cẩn thận, bởi làm vũ khí sai một ly đi một dặm”-ông Trí kể.

Và thử thách đến với Phan Thượng Trí chỉ khoảng nửa năm sau ngày “nhập môn”. Hồi ấy, cấp trên nhận được phản ánh của bộ đội từ mặt trận báo về, đề nghị Nha NCKT nghiên cứu, chế tạo một loại vũ khí khi ném đi chỉ gây tiếng nổ để địch hoảng sợ bỏ chạy mà không gây sát thương, bởi trong nhiều tình huống chiến đấu có cả dân thường và bộ đội ta. Từ yêu cầu thực tế chiến trường, một tổ nghiên cứu gồm 3 người do Phan Thượng Trí làm tổ trưởng được giao nhiệm vụ nghiên cứu thử thành phần lựu đạn khói (fumigène) của Pháp để tính toán, chế tạo sản phẩm mới của ta. Ông nhớ lại: “Trên cơ sở những hiểu biết của mình, qua nghiên cứu tài liệu, trực tiếp xem kết cấu quả lựu đạn, tôi thấy rằng cùng khối thuốc nổ cho vào lựu đạn vỏ dày nên khi nổ sẽ văng ra nhiều mảnh, sức sát thương cao. Nếu làm vỏ mỏng đi, với khối thuốc nổ nhất định, nhồi đúng mật độ thì dù nổ nhưng các mảnh vỏ văng ra ít sẽ hạn chế thương vong”.

Nghĩ vậy, tổ nghiên cứu quyết định làm thử nghiệm. Hai lần nén thuốc nổ và ném thử đều hiệu quả nhưng chưa được như mong muốn. Đến lần thứ ba, Phan Thượng Trí quyết định làm trực tiếp trên tay. “Hôm ấy, tôi thử nghiệm cho mọi người xem chỉ với mong muốn nghiên cứu của tổ sẽ thành công, để sản phẩm nhanh chóng được sản xuất hàng loạt rồi chuyển ra chiến trường phục vụ chiến đấu. Do thuận tay phải, tôi quyết định giữ khối vỏ tay trái, tay phải nhồi thuốc, trong đầu xác định sẵn sàng đối mặt với tình huống xấu, có bị thương cũng chỉ bị tay trái. Chẳng ngờ, do nhồi thuốc quá nhiều, lực nén lớn, mật độ thuốc tăng cao, khối bộc phá nổ ngay trên tay tôi”-CCB Phan Thượng Trí kể.

Lần tai nạn ấy, Phan Thượng Trí bị nát bàn tay trái, 7 mảnh kim loại găm trên người. Riêng một mảnh còn ở chân đến nay vẫn chưa lấy ra được. May mắn được cấp cứu kịp thời, khi hồi phục, ông trở lại đơn vị tiếp tục công tác. Các thông số kỹ thuật của tổ nghiên cứu do ông phụ trách được nghiệm thu, sau đó đưa vào sản xuất hàng loạt cấp cho các đơn vị chiến đấu, phát huy hiệu suất cao.

leftcenterrightdel
CCB Phan Thượng Trí (thứ ba, từ trái sang) và ông Nguyễn Huy Sính (thứ tư, từ trái sang) chia sẻ những câu chuyện ở Chiến khu Việt Bắc với lãnh đạo và thế hệ trẻ Viện Vũ khí, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng. Ảnh: THẾ MẠNH

Miếng pho-mát phần thưởng

Lên chiến khu và gia nhập Nha NCKT khi Phan Thượng Trí đã trở về sau đợt điều trị vết thương với đôi tay không còn nguyên vẹn, Nguyễn Huy Sính rất khâm phục đàn anh của mình. “Ngày đó, tôi về Phòng Cơ khí, cách không xa Phòng Hóa chất của anh Trí nên anh em cũng hay gặp mặt. Thấy anh bị thương như vậy mà vẫn tích cực làm việc quên mình, tôi không khỏi khâm phục và dặn mình cố noi theo”-ông Sính tâm sự.

Nguyễn Huy Sính cặm cụi với công việc thường nhật, lặng thầm như chú ong thợ theo gương đồng đội. Ban đầu, Nguyễn Huy Sính được giao nhiệm vụ đính can SKZ60, gửi in offset rồi chuyển đến các bộ phận. Một lần, ông được trưởng phòng giao nhiệm vụ cùng đồng chí Bùi Văn Tâm (tức Bùi Tâm) thợ nguội ở xưởng sản xuất làm âm thoa duy trì (thiết bị duy trì độ rung ổn định để đo thời gian, tính toán vận tốc bay của đạn-NV). Hồi ấy, các xưởng quân giới cơ bản thiếu thốn trăm bề. Trong tay ông ngoài cuốn sách của đồng chí Tạ Quang Bửu mang từ nước ngoài về để nghiên cứu thì “chẳng có gì”. Vậy mà, lần mò lắp ráp thử nghiệm, sau gần một năm, hai người đã hoàn thành nhiệm vụ. Âm thoa được rèn đúng, rơ-le đóng mở lấy từ một bộ phận của ô tô hỏng… “Tôi còn nghĩ ra cả cách tiếp điện cho nó cơ đấy. Sản phẩm hoàn thành, tôi báo cáo cấp trên, bàn giao cho khâu sau rồi chuyển sang nhiệm vụ mới. Nhớ nhất là cuối năm đó, Nha NCKT được cấp một số chiến lợi phẩm thu được của địch, tôi và anh Bùi Tâm mỗi người được thưởng một miếng pho-mát do hoàn thành tốt nhiệm vụ chế tạo âm thoa duy trì. Ngon đáo để!”-ông Nguyễn Huy Sính cười nhớ lại.

Một thời gian sau, ông được chuyển sang làm việc cùng Phòng Hóa chất với Phan Thượng Trí. Ở đây, công việc của Nguyễn Huy Sính chủ yếu là phục vụ phân tích mẫu quặng, thuốc nổ. Tuổi còn trẻ nên ông cố gắng tìm tòi, học hỏi những người đi trước, trong đó có thương binh Phan Thượng Trí. Ông kể: “Hồi ấy, anh em gắn bó, yêu thương nhau như người thân trong gia đình. Tôi nhớ hồi giáp Tết năm 1950, khi tôi chuẩn bị được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc thì bị cơn sốt rét ác tính. Trong lúc gạo muối thiếu thốn, hình ảnh anh Ngô Gia Nghi (em trai Anh hùng Lao động Ngô Gia Khảm)-lúc ấy là Bí thư Đoàn-mang cho tôi bát cháo, còn anh Trí ngồi bên liên tục động viên tôi cố gắng, đến giờ nhớ lại, tôi vẫn không khỏi xúc động”.

Sau này, hai ông được đi học đại học chuyên ngành. Ông Phan Thượng Trí học Trường Đại học Bách khoa, phục vụ trong quân đội đến khi nghỉ hưu, còn ông Nguyễn Huy Sính sang Liên Xô (trước đây) học chuyên ngành địa chất rồi về nước làm công tác giảng dạy, nghiên cứu. Giờ đây, khi đã về với điền viên, họ vẫn thường xuyên gặp nhau ôn lại chuyện xưa trong mỗi dịp gặp mặt của Ban liên lạc Nha NCKT và kể cho thế hệ trẻ ở Viện Vũ khí-đơn vị kế thừa của Nha NCKT-về những ngày tháng gian lao trên chiến khu thực hiện nhiệm vụ, với mong muốn “lửa” của hôm qua sẽ tiếp tục truyền đến mai sau.

SONG THANH