Nghe tiếng vọng của còi tàu, trong tôi lại hiển hiện một Ga Gôi với những bóng thanh niên xung phong (TNXP), công nhân đường sắt, dân quân địa phương đang thoăn thoắt lao qua lửa đạn cứu hàng, cứu tàu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước năm nào.

Sự kiện bi tráng ở Ga Gôi đã được báo chí, nhất là Báo Quân đội nhân dân trong những năm qua tuyên truyền đậm nét, với nhiều vệt bài xúc động, được dư luận quan tâm, đánh giá cao. Năm 2013, Đại đội TNXP 895 và liệt sĩ, Tiểu đội trưởng Nguyễn Thị Hồng Mùi đã được trao và truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Tuy nhiên, còn một lực lượng tham gia tích cực trong sự kiện này vẫn ít được nói đến. Đó là những dân quân địa phương...

leftcenterrightdel
Thắp hương tri ân tại Ga Gôi. Ảnh: Thư Bình. 

Cách đây mấy năm, một bia tưởng niệm do đoàn viên, thanh niên Đường sắt Việt Nam dựng lên trong sân ga đã ghi: “Nơi đây, ngày 20-8-1966, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 895 TNXP cùng cán bộ, công nhân viên đường sắt khu vực Ga Núi Gôi (Ga Gôi) và nhân dân địa phương đã dũng cảm cứu chữa đoàn tàu hàng bị cháy trong trận ném bom của máy bay Mỹ. Nhiều đồng chí đã hy sinh. Hàng trăm người bị thương nặng. Tinh thần chiến đấu quên mình của các đồng chí mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ noi theo”.

Tôi tìm đến nhà cụ Đỗ Công Chính ở thị trấn Gôi. Trong trận máy bay Mỹ oanh tạc đoàn tàu hàng ở Ga Gôi ngày ấy, cụ Đỗ Công Chính là tổ trưởng cứu thương thuộc dân quân xã Tam Thanh (huyện Vụ Bản). Nay cụ Chính đã ở tuổi ngoài 80, đi lại chậm chạp do tuổi già và một phần do di chứng nhiễm độc trong trận cứu hàng ngày 20-8-1966. Cụ Chính xúc động kể: “Vào buổi chiều 20-8-1966, máy bay Mỹ thả bom, bắn rốc-két vào đoàn tàu đang chuẩn bị rời ga, chở hàng về phía Nam. Đoàn tàu bị trúng đạn, bốc cháy dữ dội. Lệnh báo động khẩn cấp. Lúc này, lực lượng TNXP Đại đội 895 thường trực đã có mặt tại ga cùng với cán bộ, công nhân viên đường sắt và dân quân chúng tôi khẩn trương dập lửa. Những kiện hàng nặng đến 60-70kg, anh chị em xốc lên vai, chạy băng băng qua khói lửa. Nhưng ngay lúc ấy, phía đầu đoàn tàu có một toa hàng bốc cháy, khói màu vàng, xanh bốc lên ngùn ngụt, phủ kín cả một vùng trong khu vực ga. Mùi khói nồng nặc, xộc vào người khiến ai nấy đều thấy rát mũi, buốt họng và lồng ngực nóng ran. Không khí trở nên ngột ngạt và khó thở. Hơn một giờ sau; đám cháy mới được dập tắt, ngay lúc ấy đã có vài người ngất đi và hy sinh tại chỗ. Tiếp theo đó, rất đông người cũng bị nhiễm độc, từ từ ngã ra, ngất xỉu. Bà con các làng trên hối hả chặt cây chuối hột vắt lấy nước, giã rau muống, lá rau lang, rau ngót, nấu cháo đậu xanh, nước đậu đen, nước chanh bón vào miệng những người bị nhiễm độc. Trong sân đình, anh em nằm la liệt, kiệt sức chờ được chuyển lên bệnh viện tuyến trên. Sự việc nghiêm trọng này đã làm 23 anh chị em TNXP hy sinh, hàng trăm người bị nhiễm độc. Nhưng hàng trăm tấn hàng đã được đưa đến nơi an toàn. 8 giờ tối hôm đó, tôi bị choáng, máu từ miệng, mũi ứa ra, ngực đau buốt dữ dội, thấy khó thở và ngất đi. Trưa ngày hôm sau, khi tỉnh lại thấy nhà tôi đang ngồi bên vừa nắn tay chân cho tôi vừa khóc”…         

Lời kể và ánh mắt của cụ không giấu được nỗi buồn. Cụ nhớ tới những người trong tổ cứu thương như bà Trần Thị Phấn, Trần Thị Thảo, Trần Thị Bé. Tổ hậu cần có bà Liên…, ông Trần Văn Nắm khi ấy là người của y tế huyện Vụ Bản cùng tham gia cứu thương và cũng bị ngất. Trong trận ấy, cụ Chính được tặng giấy khen của Ty Y tế tỉnh Nam Hà. Sau này, cụ còn bị thương và bị sức ép bom. Tuy vậy, cụ vẫn tích cực tham gia lực lượng công an viên của xã nhiều năm nữa. Cụ được tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương kháng chiến. Cụ Chính cho biết, những dân quân địa phương tham gia cứu hàng, cứu tàu trong trận ấy phần lớn đã mất vì ốm đau, bệnh tật. Cụ bồi hồi nhắc tới các đồng chí chủ tịch, bí thư Đảng ủy xã như ông Tiện, ông Nhung… cùng anh em dân quân thường xuyên bám trụ ở khu vực ga, quên ăn, quên ngủ cùng lực lượng TNXP có mặt kịp thời trong các trận oanh tạc của máy bay Mỹ vào khu vực ga. Cụ bà Nguyễn Thị Nhàn (vợ cụ Chính) nói: “Các anh chị em TNXP còn trẻ lắm, vui và tốt tính. Họ ăn, nghỉ thường trực dọc tuyến đường gần ga trong các lều bạt và những căn hầm chữ A. Nhà tôi gần ga, ông nhà tôi tham gia dân quân nên anh chị em thường vào nhà chơi uống nước”. Rồi bà nhắc tới các anh chị hồi ấy như ông Quý, ông Mai, ông Minh, bà Minh… nhiều người bà còn nhớ hình dáng nhưng đã quên tên...

Trời sập tối. Tiếng còi tàu báo hiệu qua ga dồn dập nghe như thổn thức một nỗi niềm. Nhìn những giọt nước mắt trắng đục lăn trên khuôn mặt phúc hậu của cụ Chính, tôi biết cụ đang nhớ về kỷ niệm một thời và những đồng đội của mình. Vẫn còn những dân quân trên địa bàn Vụ Bản thuở đó đang sống trong cảnh khó khăn, bệnh tật, một phần do sự nhiễm độc trong trận cứu hàng, cứu tàu năm nào. Công trạng và sự bù đắp cho những dân quân năm ấy không thể bị lãng quên.

HOÀNG ĐÌNH HÙNG