Đó là một ngày tháng 5-1972, tại nhà làm việc ở Đồ Sơn (Hải Phòng), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gặp và hỏi đồng chí Trưởng phòng Tác chiến Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ) Lê Thanh Cảnh: “Cậu cho mình biết tỷ lệ B-52 bị bắn rơi: Mức độ nào thì Mỹ chịu đựng được và tiếp tục cuộc ném bom; mức độ nào thì Nhà Trắng rung chuyển; mức độ nào khiến Mỹ không chịu nổi, phải thua?”.

Hôm đó, đồng chí Lê Thanh Cảnh không trả lời được và xin phép Đại tướng được trả lời sau. Phải mất gần một tuần lễ cùng với các chuyên gia Liên Xô và các nhà nghiên cứu mới tìm được 3 đáp số, đó là:

N1 = 1 đến 2% (tỷ lệ B-52 bị bắn rơi): Mỹ coi thường và tiếp tục đánh.

N2 = 6 đến 7%: Nhà Trắng sẽ rung chuyển.

N3 = 10% trở lên: Mỹ phải thua cuộc.

leftcenterrightdel
Xác máy bay B-52 bị bắn rơi ở đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội) ngày 27-12-1972. Ảnh tư liệu 

Tư lệnh Quân chủng PK-KQ lên báo cáo với Đại tướng. Đại tướng hỏi: “Vậy quân chủng nhận con số nào?”. Tư lệnh Lê Văn Tri trả lời luôn: “Bằng mọi cách, chúng tôi phải loại trừ N1, phấn đấu đạt N2 và vươn tới N3”. Kết quả như đã thấy, với tỷ lệ trên 17% máy bay B-52 bị bắn rơi, Bộ đội PK-KQ đã thực hiện được chỉ tiêu N3, buộc Mỹ phải chấp nhận thất bại.

Giành thắng lợi trong trận quyết chiến chiến lược đó, quân và dân ta đã chủ động, chuẩn bị thế trận phòng không nhân dân rộng khắp, tạo thành một sức mạnh to lớn. Đây là điểm đặc sắc của đường lối chiến tranh nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh.

Sự thật là lực lượng của ta trong chiến dịch 12 ngày đêm là có hạn và không thể so sánh với lực lượng của Mỹ. Cuối năm 1972, lực lượng PK-KQ miền Bắc có 3 nhiệm vụ rất nặng nề: Vừa trực tiếp tham gia trong đội hình tác chiến quân-binh chủng hợp thành ở Mặt trận Quảng Trị; vừa phải ra sức bảo vệ giao thông trên Mặt trận Quân khu 4; đồng thời phải sẵn sàng đánh trả một cuộc tập kích đường không quy mô lớn vào Hà Nội, Hải Phòng. Vì thế, lực lượng phòng không bị chia ra, phân tán nhiều nơi, đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ chiến lược. Hà Nội, Hải Phòng chỉ có 5 trung đoàn tên lửa, 6 trung đoàn pháo cao xạ, 4 trung đoàn không quân, trong đó chỉ có 2 trung đoàn MiG-21, ra-đa có 4 trung đoàn rải khắp miền Bắc. Ngoài ra, lực lượng phòng không của dân quân, tự vệ 9 tỉnh có 1.316 khẩu pháo cao xạ các loại.

Trong thế trận phòng không nhân dân, các lực lượng đều phát huy tối đa vai trò, khả năng, tạo nên sức mạnh tổng hợp, đè bẹp âm mưu của kẻ thù.

Bộ đội ra-đa: Ngay đêm 18-12, các kíp trắc thủ của các đại đội 45, 46, 41 của Trung đoàn 291 đã phát hiện và khẳng định chính xác B-52 vào đánh Hà Nội (trước 29 phút), tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 78, Trung đoàn 257 phóng quả đạn đầu tiên mở màn chiến dịch vào lúc 19 giờ 44 phút.

Bộ đội không quân tiêm kích: Thực hiện đánh “bóc vỏ”, đánh tiêu hao, làm đội hình máy bay địch bị phá vỡ, phân tán, chỉ huy rối loạn, do đó cường độ nhiễu đội hình B-52 giảm, tạo điều kiện cho tên lửa ta tiêu diệt. Trong 12 ngày đêm, Không quân đã bắn rơi 7 máy bay các loại, trong đó có 2 chiếc B-52.

Bộ đội tên lửa phòng không: Là lực lượng chủ yếu đánh B-52 trong chiến dịch 12 ngày đêm. Ngay trong đêm đầu tiên, các đơn vị tên lửa đã đánh trúng đội hình B-52, lập công xuất sắc. Trong cả đợt, bộ đội tên lửa đã bắn rơi 29 chiếc B-52 trong tổng số 34 chiếc bị quân dân ta bắn rơi. Có 16 chiếc rơi tại chỗ.

Bộ đội pháo phòng không: Có nhiệm vụ bắn máy bay bay thấp, bay bằng, bổ nhào ném bom ở độ cao thấp và trung bình; đồng thời sử dụng cả pháo 100mm đánh B-52. Trong chiến dịch, bộ đội pháo phòng không bắn rơi 29 máy bay chiến thuật các loại, pháo 100mm bắn rơi 3 máy bay B-52.

Lực lượng phòng không của bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ: Trong 12 ngày đêm, các đơn vị súng máy phòng không được bố trí đón lõng bắn máy bay bay thấp. Ta đã tổ chức 364 phân đội dân quân, tự vệ với 1.428 khẩu pháo và súng máy phòng không các loại, tạo thành thế trận phòng không nhân dân rộng khắp. Lực lượng này đã bắn rơi 9 máy bay chiến thuật của Mỹ.

Ngoài ra còn phải kể đến lực lượng dân quân, tự vệ và nhân dân các địa phương, tuy không trực tiếp tham gia bắn máy bay nhưng đã tham gia những nhiệm vụ hết sức quan trọng, như: San lấp, sửa chữa sân bay, làm trận địa tên lửa, cao xạ, ra-đa, ngụy trang cất giữ vũ khí, khí tài…

Với một thế trận có thể nói là “thiên la địa võng”, tầng tầng lớp lớp như thế, đã làm cho guồng máy chiến tranh khổng lồ và lực lượng, phương tiện hiện đại, hùng hậu của Mỹ bị bất ngờ và nếm “trái đắng”. Đây cũng là nét độc đáo thể hiện sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” thực sự là đòn đánh quyết định cuối cùng trực tiếp giữa ta và quân đội Mỹ, buộc đế quốc Mỹ phải kết thúc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Chiến thắng đó đã tạo bước ngoặt lịch sử cơ bản, tạo tiền đề tiến tới thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

NGUYỄN NGỌC TUÂN