Tôi luyện trên “vùng đất lửa”
Khi trở lại Lữ đoàn Phòng không 214 để lấy tư liệu, Thượng tá Trần Nam Trung, Trưởng ban Tài chính, Báo Quân đội nhân dân nói với tôi: “Ông nội tôi, Đại tá Trần Bút, nguyên là Trưởng ban Tác chiến, Phòng Tham mưu của Lữ đoàn Phòng không 214, đã từng chiến đấu và chỉ huy hàng trăm trận đánh trong những năm không quân Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc, nhất là ở những “vùng đất lửa” Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình... Hiện nay, Bảo tàng Ngã ba Đồng Lộc còn lưu giữ, trưng bày chiếc áo trấn thủ của ông đã mặc trong những năm chiến đấu bảo vệ Ngã ba Đồng Lộc và các trọng điểm trên địa bàn”.
Đại tá Trần Bút, nguyên Phó tham mưu trưởng Binh đoàn 12-Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn, nguyên Tham mưu trưởng Trung đoàn Pháo cao xạ 210, nguyên cán bộ Phòng Cao xạ, Đoàn 559. Những câu chuyện mà tôi được nghe Đại tá Trần Bút kể trong Chương trình giao lưu nghệ thuật “Đồng Lộc-Những đóa hoa bất tử”, dịp kỷ niệm 40 năm ngày hy sinh của 10 nữ thanh niên xung phong tại Ngã ba Đồng Lộc (24-7-1968 / 24-7-2008), giúp tôi hình dung rõ nét hơn về sự khốc liệt mà bom đạn Mỹ đánh phá ở vùng đất lửa này. Đó là sự dũng cảm, tôi luyện trong chiến đấu của bộ đội phòng không, mà Trung đoàn Pháo cao xạ 214 là một trong những đơn vị điển hình, đã tham gia chiến đấu ngay từ trận đầu tiên ngày 5-8-1964 và bắn rơi chiếc máy bay thứ 300 và 500 của Mỹ trên bầu trời miền Bắc, ngay trên vùng đất Nghệ An và Quảng Bình, góp phần bảo vệ tuyến giao thông huyết mạch từ hậu phương miền Bắc, chi viện cho tiền tuyến miền Nam.
    |
 |
| Trận địa pháo của Trung đoàn Pháo cao xạ 214 bảo vệ phà Quán Hàu, năm 1968. Ảnh tư liệu |
Tôi đã đến những trận địa pháo của Trung đoàn Pháo cao xạ 214 trước đây, như trận địa pháo của Đại đội 6 trên đỉnh 102 Núi Quyết; những trận địa ở Bến Thủy, Phà Gianh, Xuân Sơn, Long Đại, Quán Hàu và đến khu vực Cha Lo, phía Tây Quảng Bình, nơi ghi dấu ngày 18-11-1964, Đại đội 3, Tiểu đoàn 14, Sư đoàn 325 (sau này thuộc Trung đoàn Pháo cao xạ 214) do Nguyễn Viết Xuân làm Chính trị viên Đại đội, đã chiến đấu dũng cảm với hiệu lệnh hành động “Nhằm thẳng quân thù mà bắn!”. Sau này, khi tham quan khẩu pháo 37mm của Đại đội 3 trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 4; đọc nhật ký của liệt sĩ Trần Đình Khang, chiến sĩ Đại đội 3, Tiểu đoàn 14, cùng chiến đấu với Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân, trưng bày tại Bảo tàng Phòng không-Không quân; chứng kiến mảnh xác máy bay thứ 500 tại Nhà truyền thống Lữ đoàn Phòng không 214... tôi hiểu rõ hơn sự gian khổ, tôi luyện trong khói lửa và càng tự hào với những chiến công của cán bộ, chiến sĩ Đoàn Sông Gianh-Lữ đoàn Phòng không 214.
Nhiều cựu chiến binh của Trung đoàn Pháo cao xạ 214 hiện đang sinh sống tại Nghệ An, “vùng đất lửa” năm xưa, nơi họ đã chiến đấu, mà tôi đã gặp, được nghe kể chuyện chiến đấu, khiến tôi cảm phục. Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Mão (từ trần năm 2022) ở xóm 5, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn (nay là xã Vạn An), tỉnh Nghệ An, nguyên là chiến sĩ nuôi quân Ban Hậu cần, Trung đoàn Pháo cao xạ 214. Anh hùng Nguyễn Văn Mão sinh năm 1939, nhập ngũ tháng 2-1965 vào Trung đoàn Pháo cao xạ 214. Sau thời gian huấn luyện chiến sĩ mới, nhờ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, Nguyễn Văn Mão được bổ sung cho Tiểu đội nuôi quân.
“Ở Tiểu đội nuôi quân, hằng ngày, tôi có nhiệm vụ đưa cơm đến các trận địa. Các trận địa thường cách nhau từ 1,5km đến 3km. Quãng đường không xa, nhưng trận địa thường trên đồi núi cao, lại bị địch đánh phá ác liệt, bom đạn chồng bom đạn nên đưa cơm đến đúng giờ cho bộ đội là hành trình gian nan. Bộ đội ăn uống kham khổ nên tôi dành thời gian học cách chế biến món ăn địa phương cho hợp khẩu vị; rồi lặn lội vào rú (rừng) đi tìm rau củ tươi; bắt ốc, cua, cá và tăng gia nuôi gà, lợn... để cải thiện bữa ăn cho bộ đội. Những lần trên đường gánh cơm lên trận địa, bị máy bay địch đánh phá, tôi quyết giữ an toàn gánh cơm, bảo đảm đủ khẩu phần ăn cho bộ đội. Mỗi khi đưa cơm đến trận địa xong, tôi còn tranh thủ giúp các khẩu đội vận chuyển đạn, hoặc làm thay phần việc của các pháo thủ bị thương. Nhiều lần đến trận địa pháo bị bom địch đánh trúng, tôi cùng mọi người đào bới tìm kiếm đồng đội, cấp cứu, tải thương về tuyến điều trị. Trong trận chiến đấu với máy bay địch tháng 4-1968, tại trận địa pháo bảo vệ bến phà Gianh, tôi và khẩu đội pháo bị trúng bom địch, đất đá phủ kín. Khi đội cứu thương đến đưa chúng tôi ra khỏi đống đất đá, dù tôi bị thương nhưng còn cơ động được. Đồng đội bảo tôi lên cáng, song tôi bảo: Còn nhiều anh em cần dùng cáng hơn tôi, các đồng chí cáng anh em nặng hơn đi trước!”, sinh thời, cựu chiến binh Nguyễn Văn Mão kể lại.
Bằng sự tận tụy trong công tác, 4 năm liền (từ năm 1965 đến 1969), Nguyễn Văn Mão được bầu là Chiến sĩ thi đua, được thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Ba cùng nhiều bằng khen, giấy khen. Ngày 25-8-1970, Nguyễn Văn Mão cùng đồng chí Lê Văn Long, pháo thủ của Trung đoàn Pháo cao xạ 214, được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.
Động lực từ truyền thống anh hùng
Nói về truyền thống của trung đoàn năm xưa, lữ đoàn ngày nay, Đại tá Nguyễn Duy Toản, Chính ủy Lữ đoàn Phòng không 214 kể về những tấm gương điển hình, chiến đấu dũng cảm như: Đồng chí Nguyễn Đình Cát bị thương gãy tay, nhờ đồng đội cắt đi cho khỏi vướng để tiếp tục chiến đấu; đồng chí Nguyễn Sỹ Hùng bị thương gãy một chân, dùng chân còn lại tựa vào thành công sự giữ vững máy đo xa, báo cự ly cho đồng đội đánh địch; đồng chí Lê Văn Long lấy thân mình che máy nạp đạn; đồng chí Nguyễn Thanh Ngãi bị thương vào bụng, một tay giữ vết thương, một tay tiếp tục quay pháo cùng đồng đội chiến đấu đến hơi thở cuối cùng...
    |
 |
| Giờ học nguyên lý vận hành trang bị khí tài của Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Phòng không 214. Ảnh: HƯƠNG THU |
“Tháng 6-2025, Lữ đoàn tổ chức đoàn công tác, gồm các thế hệ cán bộ, cựu chiến binh của Lữ đoàn, do Thượng tá Phạm Văn Dương, Phó chính ủy Lữ đoàn Phòng không 214 phụ trách, vào thăm lại chiến trường xưa. Đoàn đến viếng các nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm, bia di tích ở các địa phương Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, nơi có các trận địa pháo phòng không của Lữ đoàn. Đoàn đã đến thăm các cựu chiến binh, tri ân các anh hùng, thương binh, gia đình liệt sĩ trên địa bàn và phối hợp với địa phương giáo dục truyền thống cho học sinh, sinh viên và nhân dân...
Trung đoàn Pháo cao xạ 214, tiền thân của Lữ đoàn Phòng không 214, thành lập ngày 17-7-1957 tại đồi Bảo Sơn, thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là phường Vĩnh Yên, tỉnh Phú Thọ). Ngay sau khi ra đời, Trung đoàn khẩn trương tổ chức huấn luyện. Năm 1961, có 4 đại đội pháo cao xạ 57mm của Trung đoàn tham gia hội thi bắn đạn thật cấp toàn quân đạt loại giỏi và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ diễn tập hiệp đồng với Sư đoàn 308. Năm 1962, Trung đoàn cơ động hơn 600km đường rừng núi, làm nhiệm vụ bảo vệ hậu phương chiến dịch Nậm Thà-Bắc Lào và cử 2 đại đội luyện tập, tham gia duyệt binh mừng Quốc khánh 2-9-1962. Từ năm 1963, thực hiện nhiệm vụ trên giao, Trung đoàn hành quân cơ động vào Quân khu 4 bảo vệ các trọng điểm ở Vinh, Bến Thủy, cảng Gianh và phía Tây Quảng Bình. Trung đoàn trực tiếp tham gia trận chiến đấu đầu tiên với không quân Mỹ ngày 5-8-1964. Hơn 10 năm (1964-1975) chiến đấu ở vùng đất lửa Quân khu 4, Trung đoàn đã đánh 4.339 trận, bắn rơi 187 máy bay, trong đó có 65 chiếc rơi tại chỗ, bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Với thành tích đặc biệt xuất sắc, Trung đoàn Pháo cao xạ 214 được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân ngày 18-6-1969 và được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ, thư khen ngợi...”, Đại tá Nguyễn Duy Toản kể với niềm tự hào sâu sắc.
Chiến đấu dũng cảm, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ và bảo vệ cảng Gianh và các mục tiêu trọng điểm, Trung đoàn Pháo cao xạ 214 được mang tên Đoàn Sông Gianh anh hùng. Năm 1979, Trung đoàn Pháo cao xạ 214 được lệnh hành quân ra bảo vệ biên giới Đông Bắc Tổ quốc và được tổ chức thành Lữ đoàn Phòng không 214. Từ đó đến nay, Lữ đoàn luôn nỗ lực huấn luyện, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, giành thành tích cao trong các hội thi, hội thao và diễn tập do Quân khu 3 và Cục Phòng không lục quân (Quân chủng Phòng không-Không quân) tổ chức.
- Vậy những kinh nghiệm trong chiến đấu và xây dựng đơn vị được Lữ đoàn vận dụng như thế nào trong điều kiện hôm nay? - Tôi hỏi.
Đại tá Nguyễn Duy Toản trả lời:
- Những năm tháng tôi luyện, chiến đấu ở vùng đất lửa Nghệ An, Quảng Bình và truyền thống hào hùng của đơn vị đã được Đảng ủy, Ban chỉ huy Lữ đoàn phát huy trong giáo dục cán bộ, chiến sĩ hôm nay. Đó là tinh thần vượt mọi khó khăn, gian khổ, ý chí quyết tâm “còn người, còn trận địa”; giáo dục bộ đội tin tưởng vào vũ khí, trang bị có trong biên chế và nghệ thuật tác chiến phòng không; tinh thần dám đánh, quyết đánh và đánh thắng địch. Lữ đoàn tập trung huấn luyện bộ đội sử dụng thành thạo vũ khí có trong biên chế; huấn luyện đánh máy bay bay thấp, máy bay không người lái; tăng cường huấn luyện đêm, luyện tập vòng tổng hợp, cơ động, xử lý tốt các tình huống, không để bị động, bất ngờ trên không... Lữ đoàn xây dựng, nhân rộng các mô hình “Khẩu đội Nguyễn Viết Xuân”, “Kíp chiến đấu giỏi”, “Khẩu đội toàn năng”... và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong huấn luyện, công tác... Liên tục từ năm 2023 đến 2025, Lữ đoàn được Cục Phòng không lục quân tặng cờ “Đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác phòng không lục quân”; được Bộ Quốc phòng tặng cờ “Đơn vị huấn luyện giỏi” năm 2020, 2023...
XUÂN GIANG