Nhà giáo Thái Doãn Mại, người đi cùng chúng tôi quê ở Nghệ An, rất thông tỏ chữ Hán, đã đọc cho chúng tôi nghe một đoạn trong lịch sử nhà Tống, đoạn văn viết: “Thì binh phu tam thập vạn nhân, mạo thử thiệp chướng địa, tử giả quá bán. Chí thị, dữ tặc cách nhất thủy bất đắc tiến, nãi ban sư”. Có nghĩa là: “Đem binh phu đi 30 vạn người, gặp phải nắng nóng đất độc, chết quá nửa. Đến nay, lại cách giặc một con sông không thể tiến lên, bèn đem quân về”. Ông Thái Doãn Mại cho hay: “Con sông ngăn giặc đó là sông Cầu. Thái úy Lý Thường Kiệt đã lập phòng tuyến sông Như Nguyệt bất khả chiến bại của ta ở đó. Phòng tuyến này không chỉ chặn được đà tiến công của quân Tống mà sâu xa hơn là đã làm thất bại hoàn toàn dã tâm xâm lược nước ta, giữ vững chủ quyền Đại Việt”.

Từ phòng tuyến lòng dân...

Một ngày đầu Xuân Bính Ngọ 2026 tôi về xã Tam Đa, tỉnh Bắc Ninh, ông Mai Kháng, giáo viên nghỉ hưu, người được mệnh danh là “Nhà sử làng” đã vui vẻ tiếp chuyện. Ông Mai Kháng cho biết: “Do đặc điểm đoạn sông Cầu chảy qua đây uốn cong như vành trăng nên người dân gọi đó là sông Như Nguyệt. Đoạn sông này không sâu, lại khá hẹp nên việc qua sông đối với đạo quân Tống là thuận lợi. Vậy nên Thái úy Lý Thường Kiệt đã lập phòng tuyến chặn giặc, khu vực này làm trung tâm của tuyến phòng ngự và đặt đại bản doanh của mình ở đây.

Phòng tuyến sông Như Nguyệt dài khoảng 30km, chạy dọc bờ Nam sông Cầu, từ ngã ba sông Cà Lồ dưới chân núi Tam Đảo (xã Đa Phúc, TP Hà Nội) đến Vạn Xuân nơi sông Cầu giao với sông Thương (xã Phù Lãng, tỉnh Bắc Ninh), tạo thành một hệ thống phòng thủ chiến lược.

Nơi được Thái úy Lý Thường Kiệt chọn đặt đại bản doanh vốn là một gò đất cao bên bãi bồi rộng có tên là Can Vang, nay thuộc thôn Thọ Đức, xã Tam Đa. Can Vang được người dân gọi là Gò Lễ, bởi mùa xuân năm Đinh Tỵ, Thái úy Lý Thường Kiệt đã làm lễ tế cờ, thề với trời đất quyết chặn giặc Tống ở đó. Đền Can Vang thờ Thái úy Lý Thường Kiệt được xây dựng đúng nơi tổ chức lễ tế cờ và sau này luôn được địa phương trùng tu, bảo vệ như hiện nay”.

leftcenterrightdel
 Ông Mai Kháng (ngoài cùng, bên trái), người thuyết minh các di tích ở địa phương.

Chúng tôi đứng trên bãi Can Vang nhìn sang bên kia sông Cầu, bên đó là dãy núi Tiên Lát của phường Vân Hà. Ông Mai Kháng cho hay: “Quân Tống đóng trên dãy núi đó. Lợi dụng đoạn sông hẹp và nông nên chúng nhiều lần tổ chức lắp cầu phao và đóng bè mảng cho quân vượt sông, dùng móc sắt, câu liêm hòng phá hủy hệ thống rào chông tre của ta ở bờ bên này, nhưng chúng chưa một lần đặt được chân lên đất bờ Nam”.

Để có được chiến lũy tre đó, Thái úy Lý Thường Kiệt đã huy động nhân dân các thôn làng dọc bờ Nam sông Cầu, chủ yếu là người dân các thôn xóm dưới chân đê, chặt tre nhà mình, đốn tre làng mình góp làm vật liệu xây dựng hệ thống rào chông tre. Được biết, hệ thống rào chông tre này rất độc đáo và cũng rất sáng tạo. Người dân cùng binh sĩ đã vót nhọn đầu cây tre dài khoảng 3 đến 5m. Có hàng vạn cây chông tre như vậy được cắm dày đặc nhiều tầng, nhiều lớp dọc bờ sông, mũi chông hướng ra sông khiến cho quân Tống loay hoay không thể nào tiếp cận được bờ để đổ quân lên. Những rào chông tre này còn xuyên thủng thuyền binh, đâm trọng thương quân địch. Ông Mai Kháng nói tiếp: “Khi quay về đền Phấn Động, các anh sẽ được chiêm ngưỡng bức tranh mô tả lại hệ thống rào chông tre đó”.

Chúng tôi nhẩm tính, với chiều dài khoảng 30km và với bề mặt bờ sông cao từ 1 đến 5m thì số lượng tre được nhân dân huy động vào xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt không phải hàng vạn mà là hàng chục vạn cây, thậm chí tới cả triệu cây tre. Qua đó mới thấy, để có được một phòng tuyến bất khả xâm phạm này, ngoài lực lượng quan quân triều đình thì công sức và vật chất của nhân dân đóng góp là vô cùng to lớn. Nhờ sức mạnh toàn dân mà dã tâm xâm lược của nhà Tống đã bị thất bại thảm hại.

Đến những chiến binh làng chài 

Ông Mai Kháng đưa chúng tôi đến tham quan, tìm hiểu ở đền Phấn Động. Ngôi đền nằm bên bờ sông Cầu và thờ linh vị ông tướng làng chài.

“Vào thời điểm quyết liệt nhất của cuộc chiến trên phòng tuyến sông Như Nguyệt, Thái úy Lý Thường Kiệt đã phải huy động tối đa lực lượng để chặn giặc. Tham gia vào lực lượng ấy phải kể đến Đội thủy binh làng chài, do ông cả Đống Mai, một ngư dân trong làng chỉ huy. Khi mới thành lập, ông cả Đống Mai đã cho người bắc loa đi khắp các làng kêu gọi, lời kêu gọi như sau: “Đàn ông gậy tày gậy mấu/ Đàn bà bị trấu bị tro/ Ra trước cửa ngò/ Đánh nhau với giặc”. Ý của câu “Đàn bà bị trấu bị tro” là kêu gọi chị em lấy trấu, lấy tro bếp đóng vào bao để làm “áo giáp” cho quân sĩ và đội thủy binh. Còn cửa ngò chính là chỗ cửa dẫn nước sông Như Nguyệt vào cánh đồng làng. Chỗ này khá hiểm yếu nên đội thủy binh chọn làm nơi dụ bè mảng chở quân Tống vào đó để tiêu diệt. Rất đông thanh niên trai tráng địa phương theo lời kêu gọi xung phong gia nhập Đội thủy binh làng chài”, ông Mai Kháng thuyết minh.

leftcenterrightdel
Đua thuyền trên sông Cầu trong ngày hội truyền thống mừng chiến thắng. Ảnh: MỘC MIÊN 

Với sở trường bơi lặn của mình, các chiến binh trong đội thủy binh đã tả xung hữu đột, dùng dao, mác đâm thủng thuyền, bè mảng của giặc Tống. Rồi trong làn nước lạnh, những tay dao, tay gươm thủy binh lại vung lên tiêu diệt chúng. Trong khi đó, những dân binh khác đã cùng quân sĩ ta phóng hỏa đốt những phên rơm được dựng sẵn khắp bờ sông. Lửa cháy dữ dội ngăn đà tiến của giặc cộng với sức chiến đấu mãnh liệt của quân dân ta đã làm quân Tống hoảng loạn.

Không may giữa lúc cuộc chiến ác liệt ấy, ông cả Đống Mai tử trận. Sau chiến thắng, người dân làng chài đã đưa linh vị ông cả Đống Mai vào phối thờ ở đền làng (đền Phấn Động hiện nay) và tôn ông là Thánh với tên gọi “Đức ông cả Đống Mai Đại vương”.

Khi trở về nhà riêng của ông Mai Kháng, “Nhà sử làng” kể câu chuyện vui với chúng tôi: “Xưa làng tôi chỉ là một bãi đất cao rộng sát chân đê. Hồi Thái úy Lý Thường Kiệt dẫn đại binh về đóng quân ở đây chặn giặc thì chỗ bãi đất cao rộng ấy là nơi chăn giữ ngựa binh. Ngựa binh được người dân cắt cỏ cho ăn hằng ngày, phải hàng trăm người ra đồng cắt cỏ mới đủ cho ngựa ăn no. Vì là chỗ chăn giữ ngựa nên theo ngày tháng mà phân ngựa nhiều đến nỗi tạo nên những đống phân lớn. Sau ngày tan giặc thì bà con thuyền chài rời xóm chài dưới sông lên bờ lập làng. Làng mới lập chưa biết đặt tên là gì. Vốn tính thật thà nên người dân cứ hồn nhiên gọi là thôn Đống Phân. Sau này mới gọi trại đi là thôn Phấn Động đấy”.

Chúng tôi cùng cười vui: “Nhưng tên làng như thế càng hay hơn, vì gắn với chiến công lẫy lừng mùa xuân năm 1077”.

Nhà văn NGUYỄN TRỌNG VĂN