Có thể thấy, trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của các nước trên thế giới, chưa bao giờ một sắc lệnh về Tổng tuyển cử lại được ban hành nhanh và sớm đến vậy. Điều này cho thấy Đảng, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Chính phủ hết sức tin tưởng vào tinh thần dân tộc, lòng yêu nước của quần chúng nhân dân, những người vừa trải qua khổ đau dưới ách đô hộ của thực dân. Tổng tuyển cử sẽ là một cuộc vận động chính trị rộng lớn và sâu sắc.
Thông qua việc thực hiện quyền làm chủ của mình, mọi người dân Việt Nam càng thấy rõ hơn, càng quyết tâm nâng cao ý thức, trách nhiệm và nghĩa vụ đối với quê hương, đất nước. Trong hồi ký của mình, ông Võ Nguyên Giáp viết: “Ở vào một tình hình trong, ngoài đều phức tạp, rối ren; một Quốc hội do nhân dân chính thức cử ra, một Chính phủ chính thức được thành lập theo đúng nguyên tắc dân chủ sẽ có đủ uy tín, danh nghĩa và sức mạnh động viên tinh thần và lực lượng của nhân dân để kháng chiến kiến quốc; để giao dịch với các nước ngoài”.
Ngày tiến hành Tổng tuyển cử theo thông báo của Chính phủ lâm thời là 6-1-1946. Trong bối cảnh tình hình rối ren và phức tạp lúc bấy giờ, để có được sự đồng thuận trong việc ấn định ngày Tổng tuyển cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính quyền cách mạng đã phải trải qua một cuộc đấu trí căng thẳng, đối phó với các phần tử, phe nhóm, đảng phái đang chống phá quyết liệt Tổng tuyển cử. Họ đòi cải tổ chính phủ, ta chấp nhận và đồng ý cho họ một số ghế trong thành phần của Chính phủ liên hiệp lâm thời nhưng với điều kiện: Chính phủ này phải tổ chức tốt cuộc Tổng tuyển cử, thống nhất các lực lượng vũ trang lại và sẽ từ chức sau khi triệu tập Quốc dân Đại hội.
Bằng những giải pháp khôn khéo và thái độ kiên quyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không những bọn chỉ huy quân Tàu Tưởng, mà cả nhóm Việt Quốc, Việt Cách cuối cùng cũng phải chấp nhận và cam đoan là sẽ không chống phá cuộc Tổng tuyển cử. Ngày 1-1-1946, danh sách Chính phủ liên hiệp lâm thời được công bố. Biết tin này, một số người tỏ ra không đồng tình. Ông Võ Nguyên Giáp kể trong hồi ký: “Có đồng chí khi nghe tin Nguyễn Hải Thần sẽ giữ một chức vụ quan trọng trong Chính phủ vội chạy tới, xin được gặp Bác, nêu thắc mắc. Bác không giải thích nhiều mà chỉ hỏi: Phân có dơ không? Nhưng dùng bón lúa tốt thì có dùng không?”.
Ngày 6-1-1946, với ý thức chính trị sâu sắc của một dân tộc khát khao đến cháy bỏng nền độc lập, tự do, kiên quyết bảo vệ mọi thành quả cách mạng vừa mới giành được; với cả sự quyết tâm và tín tâm cao độ, những công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn nô nức đi bỏ phiếu để bầu những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. 333 ứng viên đại diện cho 3 miền Bắc-Trung-Nam, các đảng phái, các đoàn thể nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo, các nhân sĩ trí thức yêu nước... kể cả Cựu hoàng Bảo Đại và một số quan lại cũ đã được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I.
Nhà nghiên cứu Vũ Lân, nguyên cán bộ phụ trách cuộc bầu cử Quốc hội ở tỉnh Phú Thọ lúc bấy giờ nhớ lại bầu không khí bầu cử lúc đó: “Khắp các địa phương nườm nượp cử tri nô nức đến các đơn vị bỏ phiếu thực hiện nghĩa vụ vinh quang “chọn mặt gửi vàng” của mình. Không riêng nam mà cả nữ; không chỉ những người biết chữ, mà cả những đồng bào mù chữ; chẳng riêng đồng bào dân tộc Kinh, mà cả bà con các dân tộc thiểu số.
Riêng các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang có địa điểm bỏ phiếu riêng đúng như điều lệ quy định. Khắp mọi nơi rợp cờ hoa và khẩu hiệu: “Ủng hộ Tổng tuyển cử”, “Hoan hô Quốc hội”, “Ủng hộ kháng chiến miền Nam”, “Ủng hộ Chính phủ liên hiệp lâm thời”... Cuộc Tổng tuyển cử diễn ra trong bối cảnh quân Pháp đã nổ súng gây hấn ở miền Nam; ở miền Bắc thì bọn Tàu Tưởng và các thế lực phản động ra sức chống phá điên cuồng, nên trong những khẩu hiệu cổ động cho cuộc Tổng tuyển cử lúc bấy giờ còn có một khẩu hiệu rất đáng nhớ, đó là: “Mỗi lá phiếu bầu là một viên đạn bắn vào đầu thù”. Khẩu hiệu đó nói lên tính chất đặc biệt của cuộc Tổng tuyển cử lần đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa”.
Ngày 2-3-1946, Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội đã lập ra Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần (đại diện cho Việt Cách) làm Phó chủ tịch; các ông Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch và Vũ Hồng Khanh làm Phó chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội; Vĩnh Thụy (tức Cựu hoàng Bảo Đại) làm Cố vấn tối cao. Cũng tại kỳ họp này, theo yêu cầu của Chính phủ liên hiệp lâm thời, Quốc hội đã quyết định bổ sung 50 đại biểu của Việt Quốc, 20 đại biểu của Việt Cách không qua bầu cử. Đây là một ngoại lệ nhằm tăng cường sự hòa hợp thống nhất dân tộc trong bối cảnh đất nước đang trong thế “ngàn cân treo sợi tóc”.
Theo ông Nguyễn Đình Thi, nguyên đại biểu Quốc dân Đại hội, thì lúc bấy giờ nhiều người không thông lắm với việc để nhóm Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh... những kẻ ôm chân bọn Tàu Tưởng điên cuồng chống phá cách mạng có mặt trong Quốc hội. Nhưng vì đại cục, vì tinh thần đại đoàn kết, “Tổ quốc trên hết”, “Dân tộc trên hết”, họ dần thấm nhuần tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sách lược của Đảng, được đả thông tư tưởng. Quốc hội yêu cầu vì quyền lợi tối cao của Tổ quốc, của nhân dân, các đảng phái phải hoạt động trong vòng pháp luật, thực hành ngay việc thống nhất các lực lượng vũ trang, hành chính và tuyên truyền.
Quốc hội đã trao “quyền bính” cho Chính phủ liên hiệp kháng chiến; đồng thời trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân Việt Nam và toàn thế giới rằng: “Chủ quyền của nước Việt Nam độc lập thuộc về toàn thể nhân dân Việt Nam. Vận mệnh quốc gia Việt Nam là ở trong tay Quốc hội Việt Nam. Chính thể của nước Việt Nam là chính thể dân chủ cộng hòa. Có nhiệm vụ bảo vệ tự do và mưu đồ hạnh phúc của mọi tầng lớp nhân dân. Các dân tộc ở trên lãnh thổ Việt Nam đều có quyền hạn và nhiệm vụ ngang nhau” (theo nội dung Hồ sơ số 1, lưu tại Văn phòng Quốc hội về Kỳ họp lần thứ nhất, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa).
Tại Kỳ họp thứ hai (từ ngày 28-10 đến 9-11-1946), Quốc hội đã thông qua Quốc kỳ, Quốc ca và Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Hiến pháp khẳng định rõ: “Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo. Đảm bảo các quyền tự do dân chủ. Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.
Với tinh thần đoàn kết, phấn đấu sẵn có của toàn dân, dưới một chính thể dân chủ rộng rãi, nước Việt Nam độc lập và thống nhất tiến bước trên đường vinh quang, hạnh phúc, cùng nhịp với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hòa bình của nhân loại”.
Nhà cách mạng lão thành Vũ Lân chia sẻ: “Càng đi theo con đường cách mạng do Bác Hồ chỉ lối, tóc trên đầu càng thêm trắng, tôi càng thấm thía nhận rõ hơn tầm nhìn xa trông rộng, phương pháp dùng người tuyệt vời, sáng suốt nhằm đáp ứng trúng những yêu cầu ở từng giai đoạn lịch sử, nhất là giai đoạn “ngàn cân treo sợi tóc” của đất nước ta hồi đó; có tính đếm chu đáo, căn cơ tác động của tình hình thế giới, đến sự tồn vong, hưng thịnh của nước mình. Bác đã chớp thời cơ tổ chức nhanh chóng cuộc Tổng tuyển cử Quốc hội, thành lập Chính phủ do Quốc hội bầu ra, có vậy Việt Nam mình mới có tiếng nói hợp hiến, hợp pháp khi quan hệ với thế giới, trao đổi với đám Tàu Tưởng...”.
Có thể thấy, cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 thực sự là một cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh dân tộc quyết liệt của nhân dân Việt Nam. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên này đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử phát triển thể chế chính trị ở Việt Nam: Thời kỳ nhân dân Việt Nam có một cơ quan quyền lực tối cao là Quốc hội, một chính phủ thống nhất, một hiến pháp tiến bộ và dân chủ; một hệ thống chính trị có đầy đủ năng lực và tư cách pháp lý để quan hệ với quốc tế và điều hành đất nước bằng “thần linh pháp quyền”.
TRẦN NGỌC LONG