“Toàn dân đoàn kết muôn năm!”

Đó là khẩu hiệu được Bác nhấn mạnh trong “Lời kêu gọi nhân ngày 1-5”, in trên Báo Cứu quốc ngày 1-5-1946. Sau khi nói về ý nghĩa của lần đầu tiên dân ta được “đón tiếp ngày 1-5”, Bác hướng về ý nghĩa của đoàn kết: “Đối với chúng ta nó là một ngày để tỏ cho thế giới biết rằng ngày này chẳng những là ngày tết lao động, mà nó còn là ngày toàn dân đoàn kết. Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới... Toàn dân đoàn kết muôn năm!”.

leftcenterrightdel
 Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ Phủ, năm 1946.

Chỉ trong đoạn văn ngắn nhưng hai chữ “đoàn kết” được nhắc lại nhiều lần để nêu vai trò cực kỳ to lớn của vấn đề, trong bối cảnh đất nước bước vào “kiến thiết”, “xây dựng”. Ngày 10-5, Bác có “Thư gửi Liên đoàn Công giáo và Nhà Dục anh, Công giáo Thái Bình” (in trên Báo Cứu quốc), cảm ơn đồng bào đã tặng “nhiều vật kỷ niệm quý báu”: “Các bà phước ngày đêm chăm nuôi các trẻ em đã rất khó nhọc, thế mà còn bớt thì giờ để thêu cái khung ảnh rất đẹp. Tôi trông thấy trong mỗi đường kim, trong mỗi mối chỉ, đã thấm thía bao nhiêu cái tinh thần yêu mến giữa đồng bào Công giáo với tôi”. Qua thư, Người nhắc nhở: “Đồng bào ta không chia lương giáo, ai cũng tương ái, tương thân, đoàn kết chặt chẽ thành một khối”.

“Xây đắp mối thân thiện giữa các dân tộc”

 Là người tha thiết yêu hòa bình, sau Ngày Độc lập, Bác tìm mọi giải pháp đối nội, đối ngoại, hết lòng gắng sức “xây đắp mối thân thiện giữa các dân tộc” để đất nước tự do, đồng bào hạnh phúc. Ngay trong “Lời kêu gọi nhân ngày 1-5”, Bác cũng “gửi lời chào mừng cho dân tộc và lao động Trung Hoa, cho dân tộc và lao động nước Pháp, để tỏ tình thân thiện quốc tế”. Với người Pháp, Bác chân thành, hòa nhã nhưng kiên quyết. Ngày 14-5, với tư cách Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Bác có “Điện văn gửi Đô đốc Đác-giăng-li-ơ (D’Argenlieu)” cảm ơn Chính phủ Pháp “về sự đón tiếp niềm nở phái đoàn Quốc hội Việt Nam”. Rất tế nhị, qua bức điện văn, Bác “chuyển lời cảm ơn... và ao ước rằng những cuộc thương thuyết sau này tại Paris cũng sẽ thân mật như thế để mưu sự thịnh vượng chung cho cả hai dân tộc”. Ngày 19-5, nói chuyện với phóng viên Hãng AFP sau Hội nghị trù bị Đà Lạt, Bác khẳng định thiện chí: “Các cuộc xung đột ý kiến không đến nỗi không giải quyết được”, tất cả nhằm mục đích “hai dân tộc phải thỏa thuận với nhau để thực hiện một cuộc hợp tác thân thiện”.

Ngày 25-5, trên Báo Cứu quốc, Bác có “Thư cảm ơn” đồng bào và “bạn hữu” đã “chúc mừng ngày sinh nhật”. Cuối thư là lời hứa, lời tâm sự, tâm tình về một khát vọng hòa bình: “Tôi xin hứa với bạn hữu các nước rằng tôi sẽ dùng tinh thần lực lượng nhỏ mọn của tôi để giúp vào xây đắp mối thân thiện giữa các dân tộc”.

Những ngày cuối tháng 5, Bác cùng đoàn đại biểu Chính phủ ta chuẩn bị sang thăm nước Pháp. Ngày 30-5, Bác có bài “Nói chuyện cùng đồng bào trước khi sang Pháp”, in trên Báo Cứu quốc ngày 31-5. Đây là một văn kiện lịch sử, một áng văn chương của tấm lòng yêu thương đất nước, đồng bào, của tình hữu ái quốc tế, cũng là “thông điệp” với thế giới về khát vọng tự do. Người cũng “có vài lời tỏ cùng các bạn người Pháp, người Tàu và các bạn kiều dân khác”. Lời văn giản dị, ấm áp, dùng khẩu ngữ, đưa đối thoại về với đời thường, bình đẳng, dân chủ: “Các bạn sống chung chạ với nhân dân Việt Nam, ra vào gặp nhau, no đói có nhau. Vậy nên nhân dân Việt Nam là bằng hữu của các bạn. Đất nước Việt Nam là Tổ quốc thứ hai của các bạn”. Nhưng để nhấn mạnh tính chất trang trọng, rất tinh tế, Bác dùng từ Hán Việt: “Các bạn cùng nhân dân Việt Nam phải tương kính tương thân, thành thật hợp tác, êm ấm thuận hòa, thực hiện chữ “Tứ hải giai huynh đệ”. Nước Việt Nam được thịnh vượng thì các bạn cũng được hạnh phúc”. Cuối bài, vẫn là một mong mỏi: “Hai dân tộc Việt, Pháp sẽ đi đến cuộc cộng tác thật thà”.

leftcenterrightdel
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, ngày 26-5-1946. Ảnh tư liệu 

Trung với nước, hiếu với dân

Là người có tầm nhìn chiến lược, Bác rất chú ý đến việc “quân binh”. Dù muôn vàn bận rộn, thời gian này, Bác vẫn cho in trên Báo Cứu quốc (để phổ biến rộng rãi, kịp thời) chùm bài viết về “Binh pháp Tôn Tử”. Có những vấn đề quân sự mang tính phổ quát lâu dài, vĩ mô, luôn mới: “Vậy trước khi chưa khai chiến, nghĩa là lúc đương định kế hoạch chiến tranh, phải tự xét mình xem đã đủ 5 điều kiện chính sau này chưa: 1- Đạo nghĩa, là chính sách của chính phủ đối với dân chúng-chính sách này phải hợp với nguyện vọng và quyền lợi của dân chúng. Đối với dân, chính phủ phải thi hành một nền chính trị liêm khiết như cải thiện đời sống của nhân dân, v.v.. 2- Thiên thời, nghĩa là lợi dụng ngày, đêm, sớm, tối, mưa, nắng, nóng, rét”. Như vậy, với Bác, “giao chiến” là việc bất đắc dĩ, chẳng đặng đừng. Nhưng muốn hòa bình, phải chuẩn bị quân đội giữ nước. Dù là việc “binh”, đặt lên trên tất cả, vẫn là “đạo nghĩa”, là “nguyện vọng và quyền lợi của dân chúng”, là “cải thiện đời sống của nhân dân”. Ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh đang tỏa rạng ra thế giới, được đón nhận rộng rãi, bởi đã nói lên mẫu số chung của văn hóa nhân loại: Tất cả vì con người. Là nhà quân sự kiệt xuất, Bác đề ra yêu cầu về “người làm tướng”, “có mưu trí bao giờ cũng lo lắng đến lợi, đến hại. Lo đến lợi mới có đủ tin tưởng làm trọn được nhiệm vụ. Lo đến hại mới tìm mưu kế để giải trừ được gian nguy”. Yêu cầu này cũng đúng với hôm nay.

Ngày 26-5, trong “Lời căn dặn học viên trong Lễ khai trường Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn”, Bác vẫn chú ý đến đoàn kết: “Trước hết phải đoàn kết, đoàn kết thật thà. Phải có kỷ luật cả về tinh thần lẫn vật chất. Phải noi gương anh dũng của anh em binh sĩ hồi khởi nghĩa để làm gương cho các lớp về sau”. Sau cùng, Bác dặn “anh em ở đây, bao giờ cũng phải làm theo hai khẩu hiệu mà nó là cái mục đích của anh em: Trung với nước, hiếu với dân”. Lời thiêng liêng ấy trở thành lý tưởng phấn đấu, là nguyên lý thắng lợi, là đạo lý quân nhân, là chân lý lịch sử của Quân đội nhân dân Việt Nam.

“Cả đời tôi chỉ có một mục đích...”

Bài “Nói chuyện cùng đồng bào trước khi sang Pháp” có nhiều ý nghĩa lịch sử, còn là ý nghĩa cá nhân, là tấm lòng thủy chung với đất nước, đồng bào: “Trước khi ra đi, tôi xin có mấy lời tỏ cùng đồng bào. Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo-là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, ủy thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng-cũng vì mục đích đó. Ngày nay, vâng lệnh Chính phủ, theo ý quốc dân, tôi phải xa xôi ngàn dặm, tạm biệt đồng bào, cùng với đoàn đại biểu qua Pháp-cũng vì mục đích đó. Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”. Không hề là “diễn ngôn” của vị Chủ tịch nước, mà là lời của một “đồng bào”, “tỏ cùng đồng bào”, ân tình, tha thiết, nồng hậu. Đoạn văn 5 câu nhưng hai chữ “mục đích” được điệp lại nhiều lần để khẳng định một cách chắc chắn, theo nguyên tắc dồn tụ, tất cả đọng lại ở câu cuối: “Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”.

Trong mọi thời điểm, mọi không gian, Bác chỉ có một mục đích ấy. Sau khi “tỏ” 4 điều cùng đồng bào: Đoàn kết; cần kiệm; tuân theo mệnh lệnh Chính phủ; “tử tế ôn hòa” với kiều dân, Bác để lại một câu đi vào lịch sử văn hóa Việt: “Đồng bào thương tôi, chắc làm theo lời tôi nói”. Bao tình thương mến, quý trọng; bao niềm tin tưởng, hy vọng gói trong 10 chữ ấy. Đó cũng là chân lý của muôn đời: Người lãnh đạo phải làm/hành động để dân “thương”. Dân “thương”, dân sẽ “làm theo”!

Đại tá, PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ