Khi tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng cao, sức khỏe của Người suy giảm, Đảng, Nhà nước ta một mặt luôn coi việc chăm sóc sức khỏe cho Người là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, nhưng mặt khác phải trù tính đến việc hậu sự của Người. Sau lễ mừng thọ lần thứ 77 của Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 1967), Bộ Chính trị đã có phiên họp bất thường về việc bảo vệ sức khỏe của Người. Tại phiên họp này, Bộ Chính trị quyết định, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, sẽ giữ gìn thi hài và xây dựng Lăng của Người để khi đất nước thống nhất, đồng bào miền Nam được thăm viếng Người và các thế hệ mai sau có cơ hội nhìn thấy con người đã làm nên lịch sử.
    |
 |
| Lăng Bác bên Quảng trường Ba Đình - nơi diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của đất nước. Ảnh: VIỆT TRUNG |
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, trong phiên họp ngày 29-11-1969, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam đã quyết nghị: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng của Người”(1). Bộ Chính trị còn đưa ra những định hướng lớn về công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh: Bảo đảm giữ gìn thi hài Hồ Chủ tịch nguyên vẹn và lâu dài, chống được các biến động có hại của khí hậu, thời tiết; có kế hoạch gìn giữ an toàn phòng chiến tranh, địch phá; thể hiện được tính cách hiện đại mà vẫn giữ màu sắc dân tộc, trang nghiêm nhưng giản dị; bảo đảm sự thuận tiện cho nhân dân, cán bộ và khách nước ngoài đến viếng đông và liên tục; bảo đảm sự kiên cố, bền vững của công trình; Lăng Hồ Chủ tịch đặt ở khu Ba Đình lịch sử. Bộ Chính trị còn quyết định: “Xúc tiến ký Hiệp định với Liên Xô về việc Liên Xô giúp ta giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng của Người”(2).
Về phía Liên Xô, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Đảng, Nhà nước, nhân dân Liên Xô đã đau cùng nỗi đau của nhân dân Việt Nam. Trân trọng tình cảm của nhân dân Việt Nam dành cho vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu, thấu hiểu ước nguyện mãi được chiêm ngưỡng lãnh tụ của mình trong hình hài, dáng vóc của Người như lúc sinh thời, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đã coi việc giữ gìn thi hài và xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là nghĩa vụ quốc tế cao cả. Với tinh thần khẩn trương cao độ, từ ngày 9 đến 23-1-1970, Chính phủ Liên Xô đã cử một đoàn cán bộ sang Việt Nam bàn bạc, khảo sát việc thiết kế Lăng Bác tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Tháng 6-1970, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô đã ra quyết định về việc giúp đỡ kỹ thuật không hoàn lại cho nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong việc xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 22-7-1970, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô L.I Brezhnev đã gửi thư cho đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam để khẳng định sự giúp đỡ của Liên Xô đối với Việt Nam trong việc xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
    |
 |
| Khai mạc Triển lãm ảnh “Lăng Bác - trái tim Tổ quốc” dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9. Ảnh: BÍCH TRANG |
Về phương diện nhà nước, ngày 9-2-1971, tại Moscow, Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết về việc Liên Xô giúp đỡ kỹ thuật cho Việt Nam trong việc giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người đã được đại diện hai Chính phủ ký kết. Dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Thường vụ Hội đồng Chính phủ của Nhà nước Việt Nam đã ra Quyết định số 44-CP ngày 4-3-1971 về việc phê duyệt bản “Thiết kế sơ bộ công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh” và ngày 31-12-1971 đã ký Quyết định số 241-CP về việc phê chuẩn bản “Thiết kế kỹ thuật công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Sau khi thiết kế kỹ thuật được phê duyệt, các nhà khoa học Liên Xô và Việt Nam lại khẩn trương cho ra đời các bản thiết kế thi công dưới sự chủ trì của kiến trúc sư trưởng Garol Isakovich-người đã được nhận Giải thưởng Lênin về thiết kế Khu tưởng niệm Lênin ở thành phố Ulyanovsk, quê hương người thầy của cách mạng vô sản thế giới.
Để xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh-một công trình bề thế, đặc biệt, mang ý nghĩa chính trị-lịch sử-văn hóa sâu sắc, trong hai năm 1973-1975, khi lửa đạn chiến tranh còn ở miền Nam và miền Bắc Việt Nam bước vào thời kỳ hậu chiến với muôn vàn khó khăn, Liên Xô đã đưa sang Việt Nam những chuyên gia giỏi nhất, những vật tư, thiết bị quý hiếm để xây dựng ngôi nhà vĩnh cửu cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhờ sự giúp đỡ chí tình, vô giá của Liên Xô và tinh thần thi đua mạnh mẽ của đội ngũ kỹ sư, công nhân Việt Nam, công trình đã được hoàn tất sau hai năm xây dựng theo đúng kế hoạch.
Ngày 18-7-1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về Lăng-nơi yên nghỉ cuối cùng của Người. Ngày 29-8-1975, công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành. Diễn văn của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại lễ khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khái quát sự nghiệp vĩ đại và nhân cách cao cả của Người mà còn khẳng định: “Lăng Hồ Chủ tịch còn là một công trình thể hiện nổi bật tình hữu nghị anh em thắm thiết của nhân dân Liên Xô đối với nhân dân Việt Nam”(3). Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, đồng chí Lê Duẩn đã thay mặt Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam “gửi đến Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ Liên Xô, đến các đồng chí chuyên gia và công nhân Liên Xô, những tình cảm thắm thiết nhất và lòng biết ơn chân thành nhất”(4).
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử thế giới và trong nước, công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn hiện diện giữa Thủ đô Hà Nội như một kỳ tích của thế kỷ 20 và biểu hiện sáng ngời của mối tình Xô-Việt. Sau này, Liên bang Nga đã tiếp nối Liên Xô giúp đỡ Việt Nam trong việc tiếp tục giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày nay, điều kiện nước ta và Liên bang Nga đã thay đổi rất nhiều, nhưng điều không thể thay đổi chính là tình hữu nghị truyền thống Việt-Nga. Cùng với các công trình về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nước Nga, công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là biểu tượng cao cả cho tình hữu nghị Việt-Nga và rộng hơn là tình hữu nghị giữa các dân tộc. Đó cũng là minh chứng về tầm vóc của nước Nga với tư cách là một cường quốc khoa học-kỹ thuật-công nghệ. Các thế hệ tiếp nối của nhân dân hai nước Việt-Nga có trách nhiệm đưa tình hữu nghị đó lên một tầm cao mới, xứng đáng với công lao tạo dựng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và biên niên sử bền chặt, thắm thiết nghĩa tình giữa hai dân tộc mà Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một minh chứng sống động.
GS, TS TRẦN THỊ MINH TUYẾT
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, 2004, t.30, tr.281
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.30, tr.282
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr.300
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr.301