Kể từ sau Hiệp định Vientiane (tháng 2-1973), chúng tôi đã có hơn 10 tháng để củng cố đơn vị, bổ sung quân, huấn luyện và học chính trị. Ăn uống đầy đủ hơn, lại thêm tăng gia cải thiện được nên khí thế trong đơn vị lên rất cao. Ai cũng mong chờ ngày trở về Tổ quốc để chiến đấu, nhưng trước hết phải tổ chức đón một cái Tết truyền thống của dân tộc chu đáo nhất. Tiểu đoàn phát động và các chi đoàn của 4 đại đội cùng tiểu đoàn bộ giao ước thi đua, xem chi đoàn đại đội nào tổ chức Tết đẹp và vui nhất.
Cơ sở vật chất Tết này có khá hơn. Mỗi người được nửa bao thuốc lá Trường Sơn, mỗi tiểu đội được hai hộp mứt nhỏ và một gói kẹo mềm. Ngày còn chiến đấu có gì dùng nấy chứ hòa bình rồi thì lính ta được dịp trổ tài. Mùa khô, rau rừng ít, anh nuôi đại đội tôi nhờ anh em ra vườn chuối tây bạt ngàn của dân xin bắp bi (hoa chuối) về làm nộm, đơn vị cũng tăng gia rau cải các loại, đã tới lúc thu hoạch. Các trung đội đua nhau nấu kẹo lạc bằng suất đường và ít lạc mới được hậu cần phát.
Lúc này, Trung đoàn 9 đang đóng quân ở vùng bình nguyên Saravan. Chi đoàn xin đại đội cho cử người vào cao nguyên Bolaven xin hạt cà phê và chè tươi của dân. Mấy năm chiến tranh, những vườn cà phê, chè của dân không thu hoạch nên tốt um, dân cho lấy thoải mái. Búp chè đem về sao trên những tấm tôn, còn hạt cà phê bóc ra rồi đem rang đủ 3 lửa, giã trên cối là những gốc cây khô khoét lõm. Rừng già có đủ mọi thứ cần thiết nếu người lính biết tận dụng. Trong chiến trường không giã được cà phê thành bột thật mịn, chúng tôi bù lại bằng cách pha “cà phê... bít tất”, tức là cho bột cà phê đã giã nhỏ vào trong cái túi vải dù, rồi cho vào soong đun lên. Lính tráng chúng tôi uống cà phê trong những cái bát sắt to mới đủ.
Ngoài những khoản nho nhỏ ấy, đại đội tổ chức nấu bánh chưng. Đất Nam Lào dân chỉ trồng lúa nếp mà không trồng lúa tẻ nên gạo nếp không thiếu. Tiểu đoàn cấp thịt lợn và đỗ xanh, còn khoản lá dong gói bánh và củi gộc để đun thì rừng nào cũng có. Trên các bãi đất ẩm ven suối mọc đầy cây dong, lính ta chỉ chọn những lá to và đẹp nhất. Lạt giang cũng không thiếu quanh rừng. Thế là mấy chàng lính khéo tay ghép gỗ làm khuôn rồi hướng dẫn anh em gói bánh chưng, đều chằn chặn. Vậy là đêm Giao thừa, vừa đón xuân vừa canh bếp nấu bánh chưng, không khí vừa ấm cúng vừa náo nhiệt.
Trong chiến trường, khi được ở hậu cứ, chúng tôi làm lán ở theo tiểu đội. Mỗi tiểu đội làm một cái bàn dài bằng nứa ghép để ăn cơm hay họp hành. Chúng tôi ra nhà dân xin chuối chín về vừa để bày, vừa để ăn. Cách hậu cứ chỉ nửa tiếng đi đường có những dãy núi và rừng già, chúng tôi lên đó tìm hoa. Mùa xuân là mùa khô nhưng cũng có nhiều loại hoa rừng.
Ở Trường Sơn và những dãy núi cao nguyên không có hoa đào, nhưng hoa mai rừng lại rất nhiều, có cả loại hoa vàng và hoa trắng nhỏ li ti như hoa mận, cây rất to. Các tiểu đội chọn cành đẹp đem về buộc hai bên cửa lán. Có tiểu đội chịu khó tìm còn kiếm được cả những khúc cây có phong lan mọc trên đó, cành dài, hoa màu trắng ở giữa phơn phớt tím.
    |
 |
| Nhà văn Vũ Công Chiến (ngoài cùng, bên trái) cùng đồng đội trở lại thăm chiến trường xưa. Ảnh do tác giả cung cấp |
Những chiến sĩ có tí chữ nghĩa như tôi được Ban Chấp hành chi đoàn tập hợp lại, giao cho làm bích báo của đại đội để thi trong tiểu đoàn. Đây là lần đầu tiên trong chiến trường chúng tôi được làm bích báo. Văn xuôi chẳng biết viết gì, tất cả tập trung làm thơ, những bài thơ “con cóc” vần vèo không thuận lắm, nhưng nội dung đều nói lên niềm phấn khởi, tự hào của đơn vị trong khí thế chuẩn bị trở về Tổ quốc chiến đấu. Ban đầu là bích báo viết trên giấy vở, viền mép treo trên những sợi dây căng ngang trong một cái giá làm bằng tre nứa. Trông cũng đẹp lắm, nhưng mấy anh lính người Bắc Ninh khéo tay tuyên bố nên làm khác. Thế là vẫn giá tre nứa, nhưng bích báo là những bài thơ khắc trên ống lồ ô cạo bỏ tinh tre rồi viết chữ lên đó, lồng vào thanh tre ngang trong giá. Khi đọc phải xoay xoay cái ống. Nhưng chưa hết, các anh không cho viết mực lên ống tre mà dùng mũi dùi sắt nung lửa khắc chữ lên đó như kiểu người ta khắc bút máy ở Bờ Hồ, Hà Nội. Cầu kỳ nhưng cuối cùng rất tuyệt, ai cũng thích. Kết quả là chiều Ba mươi Tết đem thi, bích báo của đại đội tôi đoạt giải nhất tiểu đoàn, dù cũng có một đại đội khác làm bích báo ống như chúng tôi nhưng chỉ viết chữ bằng mực.
Đêm Giao thừa, chúng tôi đón Tết thật vui. Có đủ thuốc lá, cà phê hoặc chè, nhâm nhi cùng kẹo lạc và văn nghệ “hái hoa dân chủ”. Lại những anh lính quê Bắc Ninh gảy đàn bầu, đàn guitar tự chế từ thùng lương khô, vỏ hộp sữa bột và mấy sợi dây thép. Cả đại đội còn được nghe Bác Tôn chúc Tết trên đài.
Mồng Một, cả đơn vị được nghỉ vui chơi, ăn bánh chưng và hưởng những món ăn anh nuôi chế biến. Ngoài những ván bài “tiến lên” còn có cả cờ tướng mà quân cờ tự đẽo gọt bằng gỗ.
Sáng mồng Hai có lệnh hành quân. Được một ngày chuẩn bị. Các tiểu đội buộc chặt lại những cành mai rừng trang trí Tết, trong nhà, ngoài sân quét dọn sạch sẽ cứ như ngày mai sẽ quay lại.
Đến đêm, đơn vị chúng tôi lên đường hành quân. Chiến trường Tổ quốc thân yêu đang chờ chúng tôi.
Nhà văn VŨ CÔNG CHIẾN