Tôi vốn là bác sĩ tốt nghiệp Trường Đại học Y Hà Nội, chuyên ngành truyền nhiễm do Giáo sư (GS) Trịnh Ngọc Phan giảng dạy. Khoa Truyền nhiễm, tức là Khoa A4 (nay là Viện Lâm sàng các bệnh truyền nhiễm) lúc bấy giờ do GS, TS Bùi Đại làm chủ nhiệm. GS Bùi Đại là một nhà khoa học không những có nhiều kiến thức sâu mà còn là một kho kinh nghiệm phong phú trong thực hành lâm sàng, nhất là về bệnh sốt rét nên tôi rất vui và phấn khởi. Suốt thời gian công tác ở Khoa A4, tôi học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong chẩn đoán và điều trị. Kỷ niệm sâu sắc đối với tôi là điều trị bệnh sốt rét, viêm gan và giun xoắn.

Tôi nhớ rõ, thời điểm tôi về công tác, Khoa A4 đang điều trị nhiều bệnh nhân bị các bệnh sốt rét và giun xoắn. Bệnh giun xoắn là một bệnh do ký sinh trùng từ thịt lợn chế biến chưa chín. Sau chiến thắng Luông Nậm Thà, tại sào huyệt của Vàng Pao ở Bắc Lào, ngoài những chiến lợi phẩm như súng đạn, ta thu được rất nhiều lợn. Bộ đội ta và Lào chế biến các món ăn từ thịt lợn để liên hoan mừng công nên bị nhiễm giun xoắn hàng loạt. Nhiều ca quá nặng dẫn đến tử vong, ca sống sót thì cũng mang di chứng xơ cứng, suy kiệt. Điển hình như dược sĩ Huấn ở Cục Quân y, có lần đứng dậy do xơ cứng đã bị ngã sấp xuống. Chúng tôi toát mồ hôi, rất may anh không sao.

leftcenterrightdel
Tác giả Vũ Bằng Đình. 

Bệnh sốt rét cũng là mặt bệnh phổ biến nhất thời gian đó. Đại đa số bệnh nhân đến từ chiến trường miền Nam, Lào, sau này thêm chiến trường K. Nhiều đợt bệnh nhân sốt rét về dồn dập, lên đến hàng trăm người, trong khi Khoa A4 chỉ có khoảng 40 giường. Chúng tôi phải kê thêm giường trong các buồng bệnh, khi không đủ chỗ nữa thì phải nằm tạm ở hành lang, hoặc phải gửi các khoa bạn trong viện. Không ít trường hợp Viện Quân y 108 không đủ chỗ thu dung, chúng tôi phải chuyển về các bệnh viện khu vực, nhất là Viện Quân y 105 ở Sơn Tây. Chúng tôi phải sang các khoa và tới các viện tuyến dưới để chỉ đạo điều trị nên công việc rất bận rộn...

Nhằm sát sao chỉ đạo phòng, chống sốt rét, chúng tôi phải thay nhau đi tuyến để nghiên cứu. Vì sức khỏe của bộ đội và nhân dân, quân y chúng tôi sẵn sàng tới những nơi gian khó nhất. Nhờ vậy, chúng tôi đã sinh thiết gan nhiều bệnh nhân sốt rét, triển khai những đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, có đề tài cấp nhà nước. Tôi nhớ rõ, thời gian sang Campuchia cùng chúng tôi nghiên cứu, chỉ đạo tuyến, bác sĩ Ngô Đình Quỳ đã hy sinh vì sốt rét và được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. 

Giữa lúc chiến sự ác liệt tại sào huyệt của bọn Pol Pot, tôi được lệnh của Cục Quân y tăng cường cho Sư đoàn 330, Quân khu 9-Mặt trận 979 tham gia chiến dịch mùa khô năm 1980. Trước khi đi, tôi nhận được thông tin của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho biết, Trung Quốc phát hiện thuốc Qinghaosu (Artemisinin, thanh hao tố) chiết xuất từ cây thanh hao hoa vàng chữa sốt rét có hiệu quả. Tại Mặt trận 979, tôi nhận nhiệm vụ trinh sát xem địch đã dùng loại thuốc chữa sốt rét này chưa, song chỉ thấy những thuốc họ đang dùng cũng giống như thuốc của quân ta. Lên tận chốt sát biên giới Campuchia-Thái Lan, tôi thấy bệnh nhân bị sốt rét, nhất là sốt rét ác tính chuyển vận về phía sau rất khó khăn. Trên đường có thể bị địch phục kích hoặc giẫm phải mìn. Thêm nữa, do điều trị không kịp thời, thuốc lại bị kháng, nên từ chốt về tới đơn vị quân y, nhiều bệnh nhân không thể qua khỏi.

leftcenterrightdel
GS Vũ Bằng Đình (thứ tư, từ trái sang) trong dịp kỷ niệm Ngày truyền thống Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, tháng 4-2024. Ảnh: VĂN SƠN 

Hình ảnh những chiến sĩ trẻ măng gục ngã trước sốt rét làm lòng tôi day dứt, trăn trở mãi. Tôi nghĩ, giá mà có loại thuốc hữu hiệu cho bệnh nhân hôn mê uống qua sonde dạ dày hoặc nhét vào hậu môn trong trường hợp sốt rét ác tính ở chốt không thể truyền dịch tải thuốc thì sẽ cứu được nhiều trường hợp. Ý tưởng này đã gợi mở cho tôi hai đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước sau này là thuốc Artemisinin đặt vào hậu môn và thuốc Artemisinin uống qua sonde dạ dày chữa sốt rét ác tính hôn mê sâu.

Về nước, tôi bàn với PGS, TS Đinh Huỳnh Kiệt, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và kiểm nghiệm dịch, Cục Quân y tổ chức đi tìm kiếm cây thuốc thanh hao hoa vàng. Cứ mỗi lần đi công tác hay chữa bệnh ở đâu tôi cũng quan tâm để ý tìm cây thanh hao hoa vàng. Tôi rất hy vọng đây là chìa khóa để giải quyết bài toán nóng bỏng chữa sốt rét khi đó.

Trong lúc tưởng chừng bế tắc thì vận may đã đến. Nhân một chuyến xe tới Học viện Quân y giảng dạy, tôi được gặp GS Vũ Văn Chuyên, một nhà thực vật học nổi tiếng hàng đầu ở nước ta. Tôi gặng hỏi GS Chuyên về cây thanh hao hoa vàng thì được anh cho biết, tên khoa học của nó là Artemisia Annua L, có nhiều ở Lạng Sơn và một số tỉnh phía Bắc. Như bắt được vàng, ngay hôm sau, tôi sang trao đổi thông tin quý báu trên với PGS, TS Đinh Huỳnh Kiệt, đồng thời đề nghị tổ chức một đoàn lên Lạng Sơn và một số địa danh ở Việt Bắc theo mách bảo của GS Vũ Văn Chuyên. Rất vui mừng là đoàn đã tìm ra cây thanh hao hoa vàng. Tôi tiếp tục đề xuất và được PGS, TS Đinh Huỳnh Kiệt chấp nhận bước đầu cho phép chiết xuất thô bán thuần khiết để ứng dụng lâm sàng, nếu có kết quả sơ bộ sẽ tiến hành chiết xuất tinh sau.

Tôi không nhớ rõ chính xác ngày, chỉ nhớ khoảng cuối năm 1987, khi đó trời đã giá lạnh và những vườn cam bắt đầu chín vàng, tôi cùng bác sĩ Nguyễn Văn Khuê và kỹ thuật viên xét nghiệm Vũ Huy Chiến sau khi được phép của Ban giám đốc Viện Quân y 108 lên Hà Giang đặt trạm nghiên cứu sốt rét tại Đội Điều trị 93, Quân khu 1. Vị trí của trạm ngay tại thị xã Hà Giang, gần chiếc cầu treo mỏng mảnh bắc qua sông Lô. Số bệnh nhân được điều trị khoảng 30 người. Kết quả như mong đợi, trên 80% bệnh nhân được điều trị bằng viên thanh hao hoa vàng bán thuần khiết cắt sốt và sạch ký sinh trùng.

Tháng 10-1988, tôi thay mặt nhóm nghiên cứu báo cáo hiệu quả sơ bộ điều trị sốt rét do P.Vivax tại hội nghị khoa học do Cục Quân y tổ chức tại Viện Quân y 108. Sau đó chúng tôi lại tổ chức một hội nghị mở rộng giới thiệu cây thanh hao hoa vàng và tác dụng chữa sốt rét tại Hà Nội trước các nhà khoa học trong nước với sự có mặt của GS Vũ Thị Phan, Viện trưởng Viện Sốt rét-ký sinh trùng-côn trùng Trung ương; GS Phạm Song, Bộ trưởng Bộ Y tế và GS Bùi Đại, chuyên viên ngành phòng dịch Bộ Quốc phòng. Mọi người đều tâm đắc với cây thuốc quý này. Cục Quân y giao nhiệm vụ cho tôi tiếp tục mở rộng nghiên cứu thuốc. PGS, TS Đinh Huỳnh Kiệt tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu dược. Sau đó, PGS, TS  Đinh Huỳnh Kiệt cùng tập thể các dược sĩ, kỹ sư Trung tâm Nghiên cứu và kiểm nghiệm dịch, Cục Quân y đã thành công chiết xuất ra Artemisinin thuần khiết đầu tiên ở Việt Nam.

Sau đó, được sự cho phép của các cơ quan chức năng, chúng tôi đã mang viên Artemisinin đi nghiên cứu hiệu quả của thuốc tại nhiều đơn vị có quân số sốt rét đông, khẳng định tác dụng của viên Artemisinin đối với chủng P.Falciparum kháng thuốc và rất tốt với cả P.Vivax. Sau này, các chế phẩm tiêm truyền của Artemisinin ra đời chữa các thể sốt rét do P.Falciparum kháng thuốc, sốt rét ác tính; giảm tỷ lệ sốt rét tại các đơn vị chiến đấu ở địa bàn rừng núi từ 70-80% xuống còn 5-7% và sau này chỉ còn 0-1%, góp phần nâng cao sức chiến đấu của bộ đội tại các mặt trận. Tỷ lệ chết vì sốt rét ác tính, sốt rét đái huyết cầu tố cũng giảm rõ rệt từ 10-40% trước đó, xuống còn rất thấp 0-2%. Như vậy, thuốc Artemisinin đã chữa khỏi sốt rét cho hàng triệu người, cứu được mạng sống cho hàng nghìn người.

Nghiên cứu sốt rét sau đó trở thành đề tài cấp nhà nước do GS, TS Bùi Đại làm chủ nhiệm, tôi làm thư ký đề tài và trực tiếp phụ trách những đề tài nhánh. Artemisinin và các chế phẩm được sản xuất quy mô lớn trong Quân đội cũng như ở Viện Dược liệu Trung ương đã góp phần quyết định giảm tỷ lệ sốt rét trong quân và dân một cách ngoạn mục. Hiện sốt rét do P.Falciparum kháng thuốc hầu như được thanh toán trên quy mô toàn quốc. Cây thanh hao hoa vàng được đưa xuống trồng đại trà ở đồng bằng, chiết xuất ra Artemisinin và các chế phẩm, sử dụng rộng rãi trong nước và xuất khẩu, đặc biệt là châu Phi... 

Nghỉ hưu, tôi vẫn tích cực hoạt động khoa học, viết sách tổng kết, tham gia hoạt động từ thiện, tiếp tục phục vụ nhân dân. Những lúc rảnh rỗi, tôi thường lấy thú tiêu khiển với thơ phú ghi lại những cảm xúc, tình cảm nhớ lại những ngày chiến đấu hay khi đi đây đi đó phục vụ sức khỏe bộ đội và nhân dân. Giờ đây, tuổi đã ngoài 90, lại bệnh trọng, tôi xin kể vài kỷ niệm xưa mong truyền lửa nghề cho thế hệ trẻ hôm nay.

Đại tá, Giáo sư, Tiến sĩ VŨ BẰNG ĐÌNH, Thầy thuốc Nhân dân, nguyên Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108