Đơn vị chúng tôi đang huấn luyện tại Ninh Bình bỗng nhận lệnh cấp tốc lên đường vào chiến trường. Cuộc đi vội vã đến mức chẳng kịp chia tay dân làng. Đoàn tàu chuyển bánh từ ga Ninh Bình vào ga Chợ Sy (Diễn Châu, Nghệ An), rồi chúng tôi leo lên những chiếc xe phủ bạt kín mít chạy dọc theo Đường 7. Sau đó, chúng tôi hành quân bộ qua phía Tây Lào. Giữa chặng đường hành quân, tôi bị cơn sốt rét rừng quật ngã. Cơn sốt ập đến như trận cuồng phong, tàn khốc và lạnh lẽo. Tôi thấy mình như bị ném vào giữa một lò lửa rực cháy, rồi ngay lập tức lại bị dìm xuống dòng suối băng giá. Anh em trong đơn vị nhìn tôi mặt mũi tái xanh, người run bần bật mà lòng hết sức lo âu. Đại đội trưởng Tiền quyết định gửi tôi vào một hang đá gần đó, nơi một tiểu đội TNXP đang bám trụ mở đường. Đó là một cuộc ký thác đầy tin cậy của những người lính dành cho những “nàng tiên” nơi tiền tuyến.

Tôi nằm bệt trên sạp nứa trong cái hang mà các cô gọi là hang Nai Vàng. Trong cơn lơ mơ, tôi nghe tiếng chị Tiểu đội trưởng dặn dò: “Hòa! Bọn tao lên mặt đường đây. Mi ở lại chăm sóc anh bệnh binh này nghe!”. Tiếng Hòa dạ khẽ khàng. Ngay sau đó là tiếng cười đùa tinh nghịch của những cô gái trẻ: “Chăm sao cho anh khỏe lên chứ đừng để anh “bệnh” thêm vì em nghe chưa!”. Tiếng cuốc xẻng va vào nhau lách cách xa dần, hang đá chỉ còn lại tôi và Hòa dưới ánh đèn dầu tù mù.

leftcenterrightdel

Nhà văn Châu La Việt (thứ hai, từ phải sang) cùng đồng đội trong chuyến về thăm lại chiến trường xưa tại Lào. Ảnh: TRIỆU PHONG 

Hòa là một cô gái mảnh mai, chừng mười tám đôi mươi. Em rất “mát tay” trong việc dùng lá rừng làm thuốc nam cho chị em đơn vị. Khi tôi tỉnh lại, Hòa đưa cho tôi mấy viên ký ninh đơn vị phát. Thấy tôi nhăn mặt vì vị đắng ngắt tê dại, Hòa mỉm cười bẽn lẽn: “Anh cứ uống đi, rồi ngủ một giấc là sẽ bớt thôi. Đoạn em hát cho anh nghe là anh thấy ngọt ngào ngay ấy mà!”.

Tôi uống thuốc rồi húp vài muỗng cháo nóng Hòa nấu, sau đó thiếp đi trong mệt mỏi. Nửa đêm tỉnh dậy, giữa cái tĩnh lặng của hang đá, tôi bỗng nghe thấy một tiếng hát vô cùng thân quen: “Nắng tỏa chiều nay, chiều tỏa nắng đôi bờ...”.

Giọng hát của em mềm mại như dải lụa, thấm vào từng thớ thịt. Kỳ lạ thay, cái vị đắng ngắt của thuốc ký ninh bỗng chốc tan biến. Tôi thấy lòng mình nhẹ tênh, ngọt ngào như vừa được uống một chén mật ong rừng. Tôi nằm lặng đi, tim đập loạn nhịp vì kinh ngạc. Làm sao có thể như thế được? Giữa cánh rừng Tây Lào xa xôi này lại vang lên khúc hát đã gắn liền với tên tuổi của mẹ tôi-người nghệ sĩ đã dùng bài hát này lay động hàng triệu trái tim, là biểu tượng của tình yêu thủy chung và khát vọng thống nhất đất nước.

Chính từ tiếng hát của mẹ, những đứa con như chúng tôi đã hiểu thế nào là yêu quê hương để rồi cầm súng lên đường. Nhưng sao cô gái này lại hát “Xa khơi”? Hay em biết tôi chính là con trai người nghệ sĩ ấy?

Tôi thảng thốt hỏi, Hòa dừng lại, nhìn tôi thật thà đáp: “Thiệt lòng với anh, em cũng chỉ biết mỗi bài ni thôi. Chị em trong đơn vị thích nghe bài ni, nên em cứ hát suốt như con chim nhỏ giữa rừng vậy...”.

Rồi em kể về người cha mất tích ngoài khơi xa, về người mẹ nghèo nơi làng cát ngày ngày đứng trước biển mà hát gọi chồng về. Bất chấp những lời bàn tán độc địa của dân làng rằng cha em đã theo địch, mẹ em vẫn sắt son một niềm tin rằng cha đang làm nhiệm vụ bí mật ngoài khơi. Mẹ cứ hát bài này để đợi cha, rồi em thuộc lòng lúc nào không hay. Hóa ra, không phải Hòa biết tôi là ai, mà chính tiếng hát của mẹ tôi đã vượt xa khỏi ánh đèn sân khấu, thấm vào máu thịt nhân dân, trở thành lời ru cho những người phụ nữ đợi chồng, đợi cha. Hai người phụ nữ, hai thế hệ, chung một khúc hát và chung một niềm tin sắt đá.

Ngày tôi khỏe lại, các cô gái TNXP tiễn tôi ra tận chân đèo Cô Tiên. Hòa đi bên tôi, đôi mắt u uẩn nhìn theo con đường vắt ngang núi. Em hỏi khẽ: “Anh đi rồi... anh có quên em không?”. Tôi nắm chặt tay em: “Không! Không bao giờ anh quên em cả!”...

Hai năm sau, khi tôi trở thành Trợ lý Tuyên huấn của Binh trạm 13, Mặt trận Đường 7, mang theo hy vọng rước tiếng hát của em về đội văn nghệ thì tất cả đã muộn. Hòa đã hy sinh trên đỉnh đèo trong một trận bom tọa độ khi đang bám trụ mặt đường cho xe qua.

Tôi lầm lũi leo lên đỉnh núi, tìm đến nấm mộ lặng lẽ của em. Gió rừngLào xào xạc thổi qua, tôi nhắm mắt lại, nghe như tiếng em vẫn vấn vương đâu đây. Hòa ơi, anh không quên em. Tiếng hát của em không chỉ làm ngọt thuốc đắng mà đã trở thành linh hồn của đất đá Trường Sơn, vĩnh viễn hóa thân vào bản hùng ca của dân tộc.

Chiến tranh đã lùi xa, những cánh rừng miền Tây Lào năm xưa giờ đã xanh màu lá mới, nhưng tiếng hát “Xa khơi” trong hang Nai Vàng đêm ấy vẫn chưa bao giờ dứt trong tâm khảm của tôi. Hòa đã nằm lại với đại ngàn, lời hứa năm xưa trở thành nỗi đau đáu trọn đời, nhưng tôi hiểu rằng em không mất đi. Em đã hóa thân vào từng tấc đất đèo Cô Tiên và vào chính khúc hát vĩnh cửu mà mẹ tôi hằng hát. Viết lại những dòng này, tôi chỉ muốn thầm thì với em một lần nữa: “Anh không quên em, Hòa ạ. Khúc hát của em vẫn mãi ngọt ngào, như một vầng trăng không bao giờ lặn trong tim anh...”.

Nhà văn CHÂU LA VIỆT