Nhà báo Bùi Anh Đức sinh năm 1946 tại Phú Thọ. Tháng 3-1967, ông nhập ngũ, sau đó đi B vào Trung đoàn 3, Sư đoàn 9. Tháng 7-1968, đơn vị cử ông học lớp bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí do Trung ương Cục miền Nam tổ chức. Kết thúc khóa học, ông được phân công về làm phóng viên Báo Quân giải phóng của Bộ tư lệnh Miền. Đầu năm 1969, Trung đoàn 3 tăng cường cho Quân khu 9, ông theo đơn vị hành quân đến vùng giải phóng ven rừng U Minh, sau đó ông được điều về Báo Quân giải phóng miền Tây Nam Bộ.
Tòa soạn lúc đó có 10 người, ở các chòi lợp lá dừa nước dựng trong vườn của má Tư được ngụy trang kín đáo bên kênh Kim Quy thuộc xã Vân Khánh, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá (nay là xã Vân Khánh, tỉnh An Giang). Ông Đức kể: “Lúc đó, tôi mới 23 tuổi, là người miền Bắc nên được các anh yêu thương, hướng dẫn, truyền kinh nghiệm làm báo ở chiến trường sông nước. Hằng ngày, trừ Thư ký tòa soạn Võ Tiến Dũng và họa sĩ Mười Giang trực sẵn sàng chiến đấu bảo vệ cơ quan, còn lại thay nhau đi đơn vị hoặc địa phương lấy tư liệu, viết bài. Mỗi chuyến công tác thường đi từng cặp, tôi và Lâm Việt Hải theo Trung đoàn 1-U Minh, Trung đoàn 2 và tỉnh Cần Thơ; anh Lê Thế Thành và Phan Trường Giang đi cùng Trung đoàn 10, Trung đoàn 20 và các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu..., hầu như đều di chuyển bằng xuồng. Có lần đi công tác, biết địch phục kích ở hai đầu kênh, chúng tôi kéo xuồng lên bờ rồi đẩy trên đồng khô cách chúng vài cây số”.
    |
 |
| Thiếu tá, nhà báo Bùi Anh Đức (bên trái) và đồng nghiệp, tháng 6-2025. Ảnh: TRUNG KIÊN |
Đi cơ sở, bộ đội chống càn thì nhà báo cũng đánh địch, anh em tập kích đánh đồn thì phóng viên cũng vượt rào kẽm gai cơ động theo. Tháng 10-1971, chuẩn bị chiến dịch mùa khô, Anh Đức và Việt Hải được cử đi Trung đoàn 2 đóng ở rạch Cái Nai thuộc huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ. Đến đơn vị đêm hôm trước thì sáng hôm sau, máy bay B-52 của địch đánh bom rải thảm vào đội hình làm một số cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn bị thương và hy sinh. Anh Đức bị bùn đất vùi, được các chiến sĩ bới đất cứu sống, còn Việt Hải bị mảnh bom xuyên thấu bàn tay phải. Cả hai được đưa đến đội phẫu của Trung đoàn cứu chữa.
Nhà báo Anh Đức kể: “Khi báo hoàn tất nội dung đưa qua xưởng in của Quân khu ở tận Móng Chim, tỉnh Cà Mau, cách khoảng 5 giờ chèo xuồng. Mỗi lần đưa bản thảo đi in hoặc lấy báo về là hành trình đầy thách thức. Một lần, tôi và anh Hồ Đắc Thành qua xưởng in phải thay nhau chèo xuồng thâu đêm trong màn mưa mù mịt. Về đến vàm kênh Kim Quy thì trời sắp sáng, thấy một bóng người trùm áo mưa ngồi trên bờ kênh trước mặt, nghĩ là dân đi câu nên anh Thành hỏi: “Anh gì ơi, phía trước “êm” không?”. Bóng người đó bật dậy. Linh tính chẳng lành nên hai anh em nhảy ào xuống nước, ép sát bờ. Lập tức, một loạt đạn nã về phía chúng tôi. Tôi vơ vội khẩu AK hướng về trước, siết cò. Rất may là tên lính hốt hoảng bắn bừa, nếu không anh em tôi khó thoát được”.
Những năm 1972-1973, vùng giải phóng miền Tây Nam Bộ dần mở rộng. Tòa soạn được lệnh di chuyển lên khu vực thuộc xã Minh Thuận, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Rạch Giá (nay là xã U Minh Thượng, tỉnh An Giang). Hằng ngày, trừ những người đi công tác, anh em ở nhà phát cỏ, cấy lúa để tự túc lương thực; giăng lưới, cắm câu kiếm cá rồi nhờ cơ sở đem ra thị trấn bán lấy tiền mua gạo và nhu yếu phẩm. Tòa soạn còn nuôi cả heo, vịt... Anh Đức kể: “Năm 1972, Trung đoàn 2 tiến công Chi khu Thới Bình trên kênh xáng Chắc Băng (Cà Mau). Tòa soạn phân công tôi đi mũi chủ yếu, anh Lê Thế Thành đi mũi thứ yếu. Chiều hôm đó, sau khi dự giao ban, anh Thành đến chòi gặp tôi thông báo kế hoạch có thay đổi. Do tôi chưa có nhiều kinh nghiệm đánh địch trong công sự miền sông nước, anh thay tôi cùng anh Phan Trường Giang đi mũi chủ yếu. Trận ấy, anh Thành bị thương khá nặng phải điều trị gần một tháng. Sau này anh tâm sự: “Sở dĩ trận ấy tôi nhận đi theo mũi chủ yếu thay Đức không chỉ vì nhiều kinh nghiệm hơn mà quan trọng là nếu có mệnh hệ gì tôi còn con trai. Đức chưa có người yêu nói chi đến con cái”. Lời tâm sự gan ruột của anh ngấm vào máu thịt tôi đến tận bây giờ”.
Sau ngày miền Nam giải phóng, Bùi Anh Đức chuyển về Cục Cán bộ (Tổng cục Chính trị), rồi tăng cường cho Báo Quân khu 2. Sau một thời gian công tác ở một số báo, tạp chí trong Quân đội, năm 1991, ông rời quân ngũ với quân hàm Thiếu tá rồi về Báo Nông thôn ngày nay làm việc. Năm 2006, ông nghỉ hưu trên cương vị Tổng biên tập Tạp chí Nông thôn mới.
HỒ KIÊN GIANG