Hầu như mọi thiết bị trong xưởng đều do chúng tôi tự tạo. Đã là lò rèn thì tất nhiên bộ phận quan trọng nhất là hệ thống thổi lửa, thường gọi là bệ thụt hay ống thụt. Nhớ lại cái ống thụt lò rèn ở quê, tôi đã tìm được hai ống thụt tuyệt vời, nhãn hiệu “made in America” hẳn hoi. Đó là hai ống pháo sáng bằng hợp kim nhôm tròn trịa, sáng bóng. Tôi gọt hai miếng ván tròn, lắp vào đầu hai cây tre nhỏ để làm hai quả thụt. Để cho khít thì lót thêm vải hoặc lông gà xung quanh hai miếng ván. Thế là Kỳ đứng lên, cầm lấy hai ống “pít tông”, phì phà phì phò bễ thổi như thật.

Thời gian sau, bễ thổi được nâng tầm công nghệ lên một bước mới. Một lần đi mót nguyên liệu từ chiếc máy bay trực thăng UH-1A bị ta bắn rơi phía Tây Nam căn cứ Đức Cơ, tôi cạy được mấy vòng bi nhỏ. Tôi về cắt tôn, hàn thêm mấy cánh quạt gió, rồi làm thêm bệ quay, lắp cánh quạt và tay quay vào. Thế là bễ đã chuyển nguyên lý từ chuyển động thẳng lên xuống sang chuyển động quay. Tuy vẫn hoạt động nhờ “động cơ chạy bằng cơm” nhưng đã hiện đại hơn hẳn!

leftcenterrightdel
Cựu chiến binh Lê Mạnh Hải (đứng thứ tư, từ trái sang) cùng đồng đội gặp mặt giao lưu tại Đình Mống, Ninh Bình, năm 2025. Ảnh: LÊ TUYẾN 

Tại đây, chúng tôi đã sản xuất, chế tạo được nhiều vật dụng hữu ích cho cuộc sống và chiến đấu.

Trong điều kiện thiếu thốn trăm bề, tôi còn chế tạo các bộ nồi chưng cất cồn và nước cất cho Tiểu đoàn 24 Quân y. Thời chiến, đó là những vật tư cực kỳ quan trọng để sát trùng vết thương, phục vụ phẫu thuật, bảo đảm vệ sinh y tế nơi chiến trường ác liệt. Hiện nay, tại Nhà truyền thống Sư đoàn 320, Quân đoàn 34 còn trưng bày 2 hiện vật do tôi chế tạo, đó là hộp đựng kính và máy đánh lửa.

Hồi đó, các thủ trưởng phần lớn đều đã có tuổi, phải dùng kính. Cặp kính không chỉ là vật dụng cá nhân mà còn là “đôi mắt” để soi từng đường bình độ, từng chi tiết nhỏ li ti trên bản đồ quân sự, để đọc tài liệu, để chỉ huy tác chiến. Giữa chiến trường, nếu kính hỏng thì gần như không thể thay thế. Vì vậy, việc giữ gìn kính được các thủ trưởng đặc biệt coi trọng. Thường thì kính được các thủ trưởng đặt trong hai nửa ống nứa rồi buộc lại bằng dây cao su, hoặc bọc vải cất cẩn thận trong ngăn trên của ăng gô.

Một lần, Đại úy Nguyễn Đình The, Chính trị viên Tiểu đoàn hỏi tôi: “Cậu có làm được hộp đựng kính bằng hợp kim đuy-ra không?”. Tôi tự tin trả lời làm được và bắt tay vào làm.

Vật liệu là những ống pháo sáng nhặt được, tôi cắt ra rồi kỳ cạch gò thành hai nửa khép kín. Cái khó không phải là tạo hình lên khuôn hộp 4 góc liền nhau (không cắt góc) mà là làm sao để hai nửa khớp nhau chuẩn xác, mở ra, đóng lại không lệch bằng bản lề một bên. Khó hơn nữa là chế tác  khóa lẫy, đóng lại thì tự cài, bấm là bật ra. Làm thủ công giữa chiến trường, không có dụng cụ chuyên dụng thực sự là một thử thách.

Nhưng “cái khó ló cái khôn”. Sau mấy ngày mày mò, tôi đã thành công làm ra những chiếc hộp kính đầu tiên. Cầm sản phẩm trên tay, tôi thấy vui, mà thủ trưởng The chắc còn vui hơn. Những chiếc hộp kính ấy trở thành món quà của Tiểu đoàn tặng các thủ trưởng cấp trên. Cầm hộp kính trên tay, ai cũng trầm trồ khen đẹp, lại rất chắc chắn.

Giữa chiến trường, dụng cụ thiếu thốn, lại chỉ với hai bàn tay mà làm được như vậy, tôi xúc động nghĩ về bố tôi. Bố tôi là nghệ nhân kim hoàn. Từ bé, bố đã dạy tôi về lòng kiên nhẫn và một phần nghề... Nếu nói về độ tài hoa thì dù cố gắng nhiều hơn nữa, tôi vẫn chỉ là học trò của bố.

Hồi đó, “Quân xưởng lò rèn” thuộc quân số Tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 25. Vị trí khu lò rèn và bếp Tiểu đoàn bộ cách nhau một con suối. Theo thường lệ, ngày nào cũng vậy, cứ khoảng 4 giờ, cậu Mía (quê ở Thái Bình) anh nuôi lại lọ mọ sang lò rèn lấy lửa về nấu ăn. Trông cậu ta cứ loay hoay, vất vả mỗi khi nhóm lửa, tôi chợt nảy ra ý nghĩ: Phải chế cho cậu “tư lệnh bếp” một cái máy đánh lửa bằng... điện. Vì những lần ra căn cứ Đức Cơ mót vật liệu về làm rèn, tôi vẫn thấy trong hầm chỉ huy có mấy cái ăng ten dặt dẹo và vài chiếc máy phát điện.

Nghĩ là làm, tôi bắt đầu bằng việc gom vật liệu. Đầu tiên  là bộ magneto. Thứ này chẳng thể tự chế thủ công vì cấu tạo phức tạp, gồm nam châm chuyển động quay tròn trong cuộn dây sơ cấp-thứ cấp để tạo dòng điện cao áp.

Tôi lọ mọ đến căn cứ Đức Cơ, nơi Trung đoàn 64 và các đơn vị phối thuộc của Sư đoàn 320 vừa đánh chiếm ngày 20-1-1973. “Đột nhập” vào hầm chỉ huy địch, đúng như dự đoán, trong hầm có máy phát điện. Trong mấy cái nằm chỏng chơ, tôi chỉ quan tâm bộ phận đánh lửa bên trong còn dùng được hay không.

Loay hoay dùng đồ nghề tháo được bộ magneto và chặt lấy đoạn dây điện trong hầm, tôi thầm nghĩ: “Mía ơi, lần này thì tao có thứ đổi mì chính và muối với mày rồi. Dùng thứ này chỉ để lấy lửa và chế đèn thì nhà bếp ta... sang nhất Sư đoàn!”.

Nhưng có magneto rồi thì phải có “vô lăng” gắn vào trục để quay. Vô lăng xe tải, xe con thì đầy rẫy, nhưng một chiếc vô lăng đồng nhỏ nhắn, đường kính chừng 6, 7 phân để phù hợp với “nhà máy phát lửa tí hon” thì cực hiếm.

Chợt tôi nghĩ đến xác xe téc của địch bị ta bắn cháy ở dốc Chư Bồ, cách Đức Cơ vài cây số về phía Đông. Đây chính là chiếc xe mà trước đó, tôi với thằng Kỳ “ngất”, thằng Nhã, thằng Hùng đã thi nhau dùng cuốc chim mổ lấy bộ nhíp về rèn dao, cuốc. Mà xe téc kiểu gì cũng phải có những van khóa các đường ống.

Tôi mò đến, nghiêng nghiêng, ngó ngó và đúng như dự đoán, phát hiện có cụm van xả nhiên liệu nên gỡ ngay một cái bằng đồng rất xịn mang về.

Đến hạng mục bình đựng xăng thì tôi xin chiếc cốc lọc của xe Gaz-63 Liên Xô từ đơn vị anh Nghị “đen” ở đội xe Sư đoàn. Còn cái van xe đạp để làm tim đèn được tháo từ chiếc săm xe đạp cũ của dân làng Bò (làng Bua).

Gom đủ nguyên liệu rồi, việc gắn kết chúng lại cũng là một thử thách. Tôi kỳ cạch cắt, mài, khoan, hàn... suốt mấy ngày trời. Cuối cùng, chiếc máy cũng thành hình.

Tôi nín thở quay nhẹ chiếc vô lăng đồng, ghé sợi dây điện sát vào chiếc van xe đạp. Một tia lửa điện xanh nhỏ bé lóe lên từ điểm tiếp xúc. Tôi thở phào nhẹ nhõm: “Có lửa rồi!”.

Vội tháo van, đổ đầy xăng vào chiếc cốc lọc, lấy vải băng y tế vê thành sợi bấc luồn vào bên trong chiếc van, rồi lắp lại cẩn thận. Phát thử lần đầu tiên, khi tia lửa điện vừa chạm vào đầu van, nơi có sợi bấc thấm đẫm xăng, ngọn lửa vàng rực lập tức bùng lên. Lâng lâng sung sướng, tôi thong thả vê một điếu thuốc lào, ghé vào ngọn lửa do mình vừa tạo ra, rít một hơi khoan khoái!

leftcenterrightdel
Magneto dùng để đánh lửa đang lưu giữ tại Nhà truyền thống Sư đoàn 320, Quân đoàn 34. 

Cái magneto là vật dụng lưỡng tiện: Nó vừa lấy lửa, nhưng chính nó cũng là chiếc đèn “tự cháy” cho các thủ trưởng đọc tài liệu khi cần. Khi “dự án” đã hoàn thành, trong buổi lễ bàn giao cho cậu Mía anh nuôi, có sự chứng kiến của các thủ trưởng và anh em Tiểu đoàn bộ, tôi dõng dạc giao kèo: “Từ nay, quân lò rèn dễ bề xin mỡ và muối của nhà bếp hơn”.

Chính trị viên The mắng: “Cái thằng lắm tài, nhiều tật! Tớ bảo cho cậu và nhà bếp biết, nếu thông đồng dè xẻo tiêu chuẩn bếp Tiểu đoàn bộ về lò rèn ca cóng là tớ kỷ luật đấy!”. Nói xong, thủ trưởng tủm tỉm cười và nhắc: “Mai lúc nào tớ gọi, nhớ rửa tay sang cắt tóc cho tớ nhé”. Tôi ngoan ngoãn “dạ”, nhưng kèm theo câu: “Thủ trưởng nhớ cái dao cạo em làm bằng cánh bom bi sắc lắm đấy!”...

Tưởng rằng sau chiến tranh mọi thứ sẽ trôi vào quên lãng, nhưng thật bất ngờ, trong một lần trở lại Sư đoàn, Thiếu tướng Nguyễn Duy Khâm, nguyên Phó tổng thanh tra Bộ Quốc phòng đã trao tặng Nhà truyền thống Sư đoàn chiếc hộp đựng kính do tôi làm năm xưa.

leftcenterrightdel
 Hộp đựng kính hiện được lưu giữ tại Nhà truyền thống Sư đoàn 320, Quân đoàn 34.

Tháng 4-2026, tôi cùng một số đồng đội trở lại chiến trường xưa. Khi tham quan Nhà truyền thống Sư đoàn 320, tận mắt nhìn bộ bản lề, móc khóa của hộp kính, ai cũng bất ngờ. Đặc biệt, mọi người càng kinh ngạc hơn khi tôi đưa chiếc máy đánh lửa ra thao tác. Khi quay magneto, sau hơn nửa thế kỷ, nó vẫn cho ra lửa!

LÊ MẠNH HẢI