Đêm 22, rạng sáng 23-3-1971, trong trận tập kích Lữ đoàn Thủy quân lục chiến 147 của địch tại cao điểm 550, tôi bị thương rất nặng. Viên đạn xuyên qua lồng ngực, làm gãy xương sườn, thủng phổi và phế quản. Sau khi cấp cứu, tạm qua cơn nguy kịch, tôi được chuyển vào Viện Quân y 68, Quân khu Trị Thiên. Nơi đây tập trung rất nhiều thương binh từ Mặt trận Đường 9-Nam Lào chuyển về. Bên trong những lán điều trị bằng tre, nứa, thương binh nằm san sát nhau trên những chiếc sạp đơn sơ. Ngày nào cũng vậy, các nhân viên y tế tất bật thay băng, tiêm thuốc, chăm sóc thương binh. Phòng mổ hoạt động suốt ngày đêm mà vẫn không xuể. Không ít người đã vĩnh viễn nằm lại trên những chiếc cáng trước khi kịp đến bàn mổ. Ngay phía sau Viện là một nghĩa trang. Mỗi ngày lại có thêm những nấm mộ mới.
Sau khi thăm khám, các bác sĩ kết luận vết thương của tôi rất nghiêm trọng, có thể phải phẫu thuật. Nhưng ở chiến trường ngày ấy, mọi thứ đều thiếu thốn, không có bác sĩ chuyên khoa lồng ngực, không đủ trang thiết bị để thực hiện đại phẫu. Biện pháp hữu hiệu nhất khi ấy là dùng kháng sinh liều cao kết hợp chọc hút dịch trong khoang màng phổi.
    |
 |
Tác giả (bên phải) trong một lần đến thăm, chúc Tết bác sĩ Nguyễn Lợi. Ảnh: THÙY VINH
|
Ngày nào các bác sĩ cũng đến bên giường bệnh của tôi. Sau khi sát trùng và tiêm thuốc giảm đau, họ dùng một chiếc xi lanh lớn cùng cây kim dài chọc sâu vào ngực hoặc lưng tôi để hút dịch. Mỗi lần hút xong, tôi lại thấy dễ thở hơn đôi chút, nhưng chỉ là sự dễ chịu tạm thời.
Tình trạng của tôi ngày một xấu đi. Mủ trong lồng ngực tôi ngày càng nhiều, đặc dần lại. Tôi liên tục sốt cao, đau tức ngực, khó thở. Muốn thở được phải nằm ở tư thế nửa nằm, nửa ngồi. Người tôi gầy rộc đi từng ngày. Những thương binh nằm cạnh tôi lần lượt ra đi. Tôi hiểu rằng cái chết đang đến rất gần. Một buổi chiều, sau khi chiến dịch kết thúc thắng lợi, Viện phát quà khao quân. Cứ hai thương binh được nhận một hộp thịt hộp. Người nằm cạnh tôi tên Thanh, bị thương rất nặng ở đầu. Khi nhận phần quà, anh nhìn tôi bằng ánh mắt hiền lành rồi khẽ nói:
- Thôi, anh giữ lấy mà bồi dưỡng sức khỏe để còn mổ. Tôi chắc không sống được nữa đâu. Ăn cũng chẳng để làm gì...
Tôi lặng người. Đêm hôm ấy, Thanh lên cơn đau dữ dội. Các bác sĩ khẩn trương tiến hành cấp cứu nhưng không thành. Sau vài cơn đau, anh trút hơi thở cuối. Sáng hôm sau, nhìn chỗ nằm trống trải bên cạnh và hộp thịt hộp vẫn còn nguyên, lòng tôi quặn thắt. Rồi cũng giống anh, tôi đem phần thịt của mình cho người khác bởi bản thân không sao nuốt nổi.
Ít ngày sau, nhận thấy tình trạng của tôi ngày càng nguy kịch, bác sĩ Sùng, Chủ nhiệm Khoa Ngoại quyết định thực hiện phẫu thuật, đặt ống dẫn lưu trực tiếp vào lồng ngực để đưa mủ ra ngoài.
Phòng mổ là một căn hầm dã chiến nửa chìm, nửa nổi, không có điện. Người ta phải dùng đèn đi-na-mô phát sáng bằng sức người đạp như xe đạp. Đạp nhanh thì đèn sáng, chậm lại là ánh sáng chập chờn. Dưới ánh đèn leo lét, các bác sĩ tiến hành ca mổ. Chỉ gây tê tại chỗ nên tôi vẫn nghe và cảm nhận được mọi thao tác. Họ mở rộng vị trí xương sườn bị gãy, luồn một ống cao su vào sâu trong khoang ngực. Tức thì dòng mủ đặc bên trong trào ra. Cũng ngay lúc đó, tôi cảm nhận được luồng hơi thở đầu tiên sâu và dài hơn sau nhiều ngày tắc nghẹt. Tôi biết mình vừa giành được thêm một cơ hội sống.
Điều trị ít ngày tại Viện, tôi được chuyển ra miền Bắc theo tuyến giao liên. Theo quy định, chỉ những thương binh nặng mới được đưa ra Bắc. Điều đó cũng có nghĩa là họ không còn khả năng tiếp tục chiến đấu. Tôi mới ngoài 20 tuổi, đầy nhiệt huyết và khát vọng cống hiến. Biết mình bị loại khỏi cuộc chiến đang diễn ra quyết liệt, tôi buồn vô cùng.
Ngày được đơn vị tiễn ra Bắc là một trong những ký ức xúc động nhất trong cuộc đời tôi. Biết trước lộ trình cáng thương binh sẽ đi qua nơi đơn vị đóng quân, cả đại đội đặc công của tôi còn lại hơn 50 người đã đứng đợi từ sớm. Tôi nằm bất động trên cáng, từng người một bước đến nắm tay tôi. Không ai nói được nhiều, chỉ có những bàn tay siết chặt và những giọt nước mắt. Những người lính từng đối mặt với bom đạn mà không hề run sợ, giờ đây lại không kìm được nước mắt trong giờ phút chia tay đồng đội.
Tôi cũng khóc, nhưng sức đã cạn kiệt. Nước mắt cứ lặng lẽ chảy dài trên gò má hốc hác. Chúng tôi đều linh cảm đây có thể là lần gặp cuối. Quả thực, nhiều người trong số họ sau đó đã mãi mãi nằm lại chiến trường. Trước lúc chia tay, anh em gom góp cho tôi vài cân đường, mấy hộp sữa và những vật kỷ niệm như đèn pin, bi đông, võng dù... Những món quà nhỏ bé nhưng chứa đựng biết bao tình nghĩa.
Đường Trường Sơn ngày ấy đi lại vô cùng gian khổ. 3 chiến sĩ tải thương thay nhau cáng tôi vượt núi, băng rừng. Hết dốc cao lại đến vực sâu. Hết nắng cháy da lại gặp những trận mưa rừng dầm dề. Mỗi đêm dừng chân ở một trạm giao liên, quân y lại hút mủ, thay băng, tiêm thuốc cho tôi.
Cáng bộ được hơn 10 ngày, qua 10 trạm giao liên thì các anh chuyển tôi ra đường cái để đưa lên xe ô tô vận tải. Tôi được đưa lên xe cùng với mấy thương binh nữa. Khi nhìn thấy tôi, các anh phụ trách vận chuyển bằng ô tô ái ngại, lo lắng. Họ cho rằng đường chiến lược trong rừng rất xấu, xe xóc rất mạnh, mà vết thương của tôi thì quá nặng. Đắn đo hồi lâu, các anh quyết định để tôi ở lại để cáng bộ. Nhưng lúc gọi mấy chiến sĩ tải thương của trạm giao liên để trả tôi lại thì họ đã quay về trước đó, không còn ai nữa. Tải thương trên ô tô chỉ có hai người mà phải lo cho ngót chục thương binh. Vì vậy, sau một hồi suy xét, không còn cách nào khác, các anh đành để tôi ở lại, chờ trên đường có giao liên và nhiều người qua lại, chắc chắn sẽ có người gặp rồi chuyển tôi về trạm. Chứ nếu chuyển bằng ô tô, tôi sẽ không thể chịu nổi mà hy sinh trên đường.
Một mình trên chiếc võng giữa ngã ba giao nhau của đường bộ và đường xe cơ giới, xung quanh hoàn toàn vắng lặng. Ban đầu, tôi hoang mang đến tột độ, căng tai lắng nghe từng tiếng động, hy vọng có ai đó đi ngang qua. Nhưng thời gian trôi đi, không có ai cả. Nắng chiều dần tắt. Bóng tối từ từ phủ xuống núi rừng. Tôi hiểu rằng mình có thể chết ở đây. Trong tập giấy tờ mang theo có giấy chứng nhận bị thương, giấy chuyển thương và giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng. Bất chợt, tôi phát hiện tên cha mình bị ghi nhầm. Sợ nếu mình chết sẽ báo tử sai địa chỉ, tôi cố gắng lấy bút sửa lại cho đúng. Sau đó, ở khoảng giấy còn trống, tôi nắn nót viết thêm một dòng: “Các đồng chí ơi, tôi đã hy sinh ở đây!”. Viết xong, tôi gấp lại cẩn thận rồi bỏ vào túi áo, chuẩn bị sẵn sàng cho cái chết. Rồi vì quá mệt, tôi dần chìm vào trạng thái mê man, không còn cảm thấy đau đớn nữa.
Và khi mở mắt ra lần nữa, tôi ngỡ mình đang mơ. Trên đầu là chai dịch truyền, bên cạnh là một nữ y tá đang chăm chú theo dõi. Thấy tôi tỉnh lại, chị reo lên:
- Ôi! Tỉnh lại rồi! May quá!
Sau này tôi mới biết, đêm hôm đó có một đoàn cán bộ dân chính đảng từ miền Nam ra Bắc đi ngang qua. Họ phát hiện tôi đang bất tỉnh bên đường và quyết định thay nhau cáng tôi suốt đêm đến cơ sở y tế gần nhất.
Khoảng 2 giờ sáng, tôi được bàn giao cho quân y đội điều trị của Binh trạm 29, Bộ tư lệnh Trường Sơn, trong tình trạng hôn mê sâu. Tại đội điều trị, bác sĩ Nguyễn Lợi cùng tập thể cán bộ quân y tiếp tục điều trị cho tôi. Nhiều lần tôi rơi vào tình trạng nguy kịch. Có lần tôi khó thở đến mức một bác sĩ đề nghị mở nội khí quản. Sau khi xem xét rất kỹ, bác sĩ Nguyễn Lợi trầm ngâm, rồi nói:
- Cậu này còn trẻ quá. Mở nội khí quản là giải pháp bất đắc dĩ. Nếu chẳng may ảnh hưởng dây thanh thì sau này có thể mất tiếng nói. Trước hết cứ điều trị nội khoa.
Quyết định ấy đã cứu tôi thêm một lần nữa. Nhờ kinh nghiệm, sự tận tâm và lòng nhân hậu của anh, tôi dần qua khỏi cơn nguy kịch, rồi được chuyển tiếp ra Viện Quân y 108 điều trị.
Chiến tranh đã lùi xa nhưng những ân tình ấy chưa bao giờ phai nhạt. Năm 2021, sau nửa thế kỷ tìm kiếm, tôi đã gặp lại bác sĩ Nguyễn Lợi. Sở dĩ có cuộc hội ngộ ấy là nhờ sự giúp đỡ tận tình của chị Lê Thị Huệ, nữ y tá từng túc trực bên tôi trong những ngày giành giật sự sống. Tháng 4 vừa qua, tôi một lần nữa được gặp lại vợ chồng bác sĩ Nguyễn Lợi tại Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập Quân khu Trị Thiên ở Hà Nội. Chúng tôi ngồi bên nhau, nhắc lại những ngày chiến tranh gian khổ. Ký ức về đồng đội, về nghĩa tình trong những năm tháng sinh tử vẫn còn nguyên vẹn như mới hôm qua.
Trong lửa đạn của chiến tranh, tình đồng đội đã tỏa sáng rực rỡ. Tôi hiểu rằng, điều giúp tôi sống sót không chỉ là thuốc men hay những cuộc phẫu thuật giữa chiến trường mà còn là tình người, tình đồng chí, đồng đội sâu nặng. Đó là sức mạnh kỳ diệu đã nâng đỡ chúng tôi đi qua chiến tranh và cũng là giá trị thiêng liêng nhất còn ở lại với cuộc đời.
Trung tướng, nhà văn NGUYỄN MẠNH ĐẨU