Anh Bùi Minh Tâm sinh năm 1943, quê ở Hà Nội, nhập ngũ tháng 6-1965. Đầu năm 1968, anh được bổ sung về đội xe của Tiểu đoàn 15-bộ đội pháo cao xạ, cùng đợt với tôi. Anh hơn tôi 5 tuổi đời, 1 tuổi quân. Có lẽ vì thấy tôi hiền lành, vui vẻ nên từ lúc nào không hay, anh đã gần gũi, rồi kết nghĩa anh em với tôi. Khi ấy, tôi là chiến sĩ Trung đoàn 3, Sư đoàn 324. Sau hai năm chiến đấu ở Quảng Trị, tôi bị thương, được chuyển ra miền Bắc điều trị. Trong thời gian an dưỡng, tôi luôn trăn trở, mong sớm trở lại chiến trường khi Tổ quốc vẫn chưa yên tiếng súng. Sau đợt kiểm tra sức khỏe tại Đoàn An dưỡng 200, Quân khu 4, tôi cùng một số anh em đủ điều kiện tiếp tục chiến đấu được bổ sung về Tiểu đoàn 15.

Tiểu đoàn 15 là đơn vị pháo cao xạ 37mm, trực thuộc Bộ tư lệnh Phòng không Quân khu 4, có nhiệm vụ bảo vệ giao thông tại Nghệ An, từ Hoàng Mai đến Bến Thủy trên trục Đường 1. Đầu năm 1968, khi không quân Mỹ tăng cường đánh phá ác liệt, đơn vị chúng tôi được điều động vào Quảng Bình, sáp nhập vào Trung đoàn Phòng không 214, làm nhiệm vụ bảo vệ các trọng điểm như sông Gianh, sân bay Đồng Hới, cầu Mỹ Đức, bến phà Xuân Sơn...

leftcenterrightdel
 Cựu chiến binh, thương binh Đặng Sỹ Ngọc tưởng nhớ đồng đội đã hy sinh, tháng 5-2026. Ảnh: PHÚ SƠN

Do thiếu phương tiện, Tiểu đoàn tổ chức một đội xe cơ động, thay nhau kéo pháo cho các đại đội. Mỗi lần về kéo pháo cho Đại đội 10 của tôi, anh Bùi Minh Tâm đều tranh thủ tìm gặp, hỏi han, động viên tôi hoàn thành nhiệm vụ. Sự nhanh nhẹn, hiền lành và chân thành của anh khiến tôi luôn cảm thấy như có người anh trai bên cạnh. Không chỉ động viên tinh thần, anh còn trực tiếp hướng dẫn tôi lái xe. Những chiếc xe vận tải do Liên Xô viện trợ là phương tiện chính kéo pháo 37mm. Anh tỉ mỉ chỉ dạy tôi từng thao tác: Kiểm tra xăng dầu, điện nước, cách đề máy, xử lý khi máy nguội... Nhờ đó, tôi đã có thể tự lái xe trong những tình huống cần thiết.

Cuối năm 1968, Mỹ tuyên bố ngừng đánh phá miền Bắc nhưng lại tập trung bom đạn ngăn chặn tuyến vận tải Trường Sơn. Tiểu đoàn 15 về Trung đoàn 284 và phải sang phía Tây Trường Sơn, chiến trường Lào, hoạt động dọc Đường 12 qua cổng trời, đến Lằng Khằng (Lào). Những năm 1968-1971, chiến sự vô cùng ác liệt. Ở các trận địa, ngày nào cũng có cán bộ, chiến sĩ thương vong. Đội xe của Tiểu đoàn cũng chịu nhiều tổn thất, nhiều lái xe dũng cảm như anh Tự, anh Bưng, anh Vinh, anh Thịnh... đã anh dũng hy sinh. Đến mùa mưa, chúng tôi được về nước để củng cố, bổ sung. Sống nơi miền biên giới Quảng Bình, chúng tôi được nhân dân và các đơn vị bạn yêu thương, giúp đỡ.

Năm 1971, Đại đội chúng tôi được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Cuối năm 1972, Tiểu đoàn 15 cũng vinh dự được phong tặng danh hiệu cao quý này. Đội xe của Tiểu đoàn, trong đó có đồng chí Bùi Minh Tâm cũng được cấp trên biểu dương khen thưởng vì đã có thành tích góp sức cho đơn vị. Anh đã lái xe kéo pháo qua biết bao trọng điểm ác liệt, từ Nghệ An, Quảng Bình sang Lào rồi trở lại Quảng Trị. Quãng đường anh đi nhiều không thể nhớ hết, nhưng may mắn là anh vẫn an toàn.

Ngày 20-7-1972, khi đơn vị cơ động vào bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, B-52 đánh trúng đội hình, tôi bị thương nặng. Anh Tâm từ đội xe vượt qua mưa bom bão đạn đến hỏi thăm, động viên tôi. Hôm ấy đầy xúc động, anh đã khóc. Từ đó, chúng tôi mất liên lạc, không biết tin nhau suốt một thời gian dài.

Sau này, tôi mới biết anh cùng đơn vị tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, có mặt trong đoàn quân tiến vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975. Năm 1977, anh mang quân hàm Chuẩn úy, rồi chuyển ngành về công tác tại Hà Nội, tiếp tục nghề lái xe. Có lần, anh hỏi thăm và tìm về Vinh (Nghệ An) thăm gia đình tôi, cuộc gặp gỡ sau bao năm xa cách khiến chúng tôi nghẹn ngào không nói nên lời.

Năm 2002, anh nghỉ hưu, cùng gia đình sinh sống tại Phú Thọ. Khi Ban liên lạc truyền thống đơn vị chúng tôi được thành lập, anh em từ khắp mọi miền đất nước lại hội tụ. Những người lính năm xưa gặp nhau trong nước mắt và tiếng cười, cùng hát lại những ca khúc quen thuộc, nhắc nhớ về một thời máu lửa. Trong cuộc hội ngộ ấy, tôi gặp được nhiều đồng chí, đồng đội nhưng niềm vui lớn nhất là được gặp lại anh Tâm. Dù thời gian có thể làm thay đổi nhiều điều nhưng tình đồng đội, tình anh em giữa chúng tôi vẫn vẹn nguyên như thuở nào. Lần nào cũng vậy, mải vui bên đồng đội mà chúng tôi quên ghi lại khoảnh khắc hội ngộ thật đẹp. Mới đây, qua điện thoại, anh hứa sẽ về Nghệ An thăm gia đình tôi để được cùng ôn lại kỷ niệm, nhắc về những đồng đội đã hy sinh và trân trọng hơn cuộc sống hòa bình hôm nay!

ĐẶNG SỸ NGỌC