Năm 1960, tôi lên Lào Cai dạy học. Năm 1966, tôi làm Hiệu trưởng Trường cấp 3 thị xã Cam Đường khi mới 30 tuổi. Trong ký ức của tôi ngày đó gắn liền với khai trường mỏ Apatit ầm vang tiếng máy. Ngày ấy, trường lớp phải sơ tán, phân tán sâu trong những cánh rừng. Đường đến trường của thầy và trò vô cùng gian nan, phải vượt qua những con dốc trơn trượt, ngày mưa thì lầy lội, ngày nắng thì bụi cuốn mịt mù. Cuộc sống miền núi cực khổ trăm bề, cơm không đủ ăn, chúng tôi phải ăn độn sắn, ngô để có sức bám lớp. Trường lớp ở đây là do thầy trò vào rừng đẵn gỗ, chặt vầu, chặt nứa, gùi từng tấm tranh qua những con dốc cao để tự dựng những gian học vách đất lợp lá. Học sinh phần lớn là con em công nhân mỏ, nông dân và con em đồng bào dân tộc thiểu số Tày, Dao, Hoa... từ các bản làng xa xôi lội suối, băng rừng, vượt dốc dài đến lớp.
    |
 |
| Thầy giáo Trần Đình Huỳnh (tháng 1-1965). |
Giữa cái gian khó tột cùng ấy, tài sản tinh thần quý giá nhất mà tôi luôn mang theo bên mình, nâng niu như một báu vật, chính là bản sao “Thư gửi các học sinh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tháng 9-1945.
Bức thư ấy không chỉ là điểm tựa của riêng tôi mà còn là ngọn lửa sưởi ấm lòng cho cả một tập thể giáo viên ngày ấy. Đó là những thầy cô giáo mới đôi mươi, vừa tốt nghiệp các trường sư phạm dưới miền xuôi đã tình nguyện vượt hàng trăm cây số lên miền núi dạy học. Hình ảnh những cô giáo trẻ da xanh mét vì sốt rét rừng, những thầy giáo đêm đêm bên ngọn đèn dầu tù mù vừa soạn giáo án vừa ôm bụng đói vẫn không phai mờ trong tôi...
Là Hiệu trưởng, công việc của tôi ngày ấy không chỉ là quản lý chuyên môn mà còn là một “quản gia” lo cho đời sống giáo viên. Tôi nhớ những đêm mùa đông rét căm căm, sau khi đi kiểm tra một vòng các hầm hào trú ẩn xung quanh trường, tôi lại cầm cây đèn bão đi gõ cửa từng lán tập thể của giáo viên để xem mái tranh có dột, gió có lùa hay không. Có những ngày gạo hết, tôi phải đi bộ nhiều cây số để liên hệ với cơ quan, công trường vay, hỗ trợ những bao gạo, sắn về nấu nướng, giữ chân các thầy, cô giáo bám lớp.
Ngày ấy, trường đón nhiều thầy, cô giáo trẻ từ miền xuôi tình nguyện lên chi viện. Tôi làm sao quên được cô giáo Mai từ Hà Nội lên trường tôi dạy môn Hóa học. Ngày đầu tiên nhận lớp, đứng trước gian học vách đất lợp lá dột nát, cô Mai đã nép sau cánh cửa lớp bật khóc vì vừa nhớ nhà, vừa ngợp trước cái nghèo, cái khó của vùng cao biên giới... Khi đó, với tư cách là Hiệu trưởng và cũng là người anh đi trước, tôi đã đến bên, nhẹ nhàng bảo cô giáo: “Mai à, học trò vùng mỏ, vùng cao của mình khổ quá. Các em từ bản xa xôi lội suối, vượt dốc đến đây chỉ mong có cái chữ. Nếu mình bỏ về thì các em trông cậy vào ai? Cố lên em, rồi thầy trò mình cùng vượt qua”.
Cô giáo trẻ lau nước mắt, gật đầu. Những ngày sau đó, chính cô Mai là người hăng hái nhất. Đêm đêm bên ngọn đèn dầu tù mù, cô miệt mài soạn bài, ban ngày lại leo bộ đến các lớp để dạy theo tiết học, vì lớp học sơ tán trên đồi cách xa nhau. Những phương trình phản ứng hóa học khô khan qua lời giảng của cô giáo Mai và những thí nghiệm trực quan trở nên cuốn hút, thắp sáng ước mơ cho các em học sinh vùng cao.
    |
 |
| Phó giáo sư Trần Đình Huỳnh đoạt giải nhất cuộc thi viết “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” lần thứ nhất do Báo Quân đội nhân dân tổ chức, với tác phẩm "Bảo vệ những tư tưởng cơ bản về xây dựng Đảng", năm 2022. Ảnh do nhân vật cung cấp |
Tôi nhớ như in những buổi khai trường dưới tán rừng già Cam Đường. Trước những khuôn mặt lấm lem bụi mỏ, quần áo không được lành lặn vì nghèo khó, nhưng ánh mắt học trò vùng cao sáng ngời. Tôi đã đứng lên đọc bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi cất giọng đọc đến câu: “... Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em...”, ngực tôi nghẹn lại. Nhìn học trò ăn chưa đủ no, nhìn các đồng nghiệp trẻ đang mỉm cười trong gian khổ, lòng tôi trào dâng một cảm xúc mãnh liệt. Đối với chúng tôi, giữa rừng sâu Cam Đường, lời dặn của Người đã thắp lên ngọn lửa, biến việc dạy và học trở thành một nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc. Chúng tôi bám trụ nơi biên cương chính vì niềm tin sắt đá ấy.
Năm 1976, tôi chuyển sang làm Trưởng khoa Triết học, Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ, tỉnh Hà Bắc. Thời gian này, tôi đi làm nghiên cứu sinh ở Trường Đảng Cao cấp Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)... Năm 1993, tôi được cấp trên bổ nhiệm Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng. Năm 1999, tôi nghỉ hưu, nhưng vẫn tích cực tham gia hướng dẫn nghiên cứu sinh và viết sách xoay quanh các vấn đề: Đảng cầm quyền; Đảng trong thời kỳ đổi mới; sự lãnh đạo, xây dựng tổ chức của Đảng; Hồ Chí Minh với nền hành chính...
Đại tá ĐẶNG VIỆT THỦY (Ghi theo lời kể của Phó giáo sư Trần Đình Huỳnh, nguyên Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)