Đêm đầu tiên bên bờ Bến Hải
Đơn vị chúng tôi là Tiểu đoàn pháo cao xạ 37mm thuộc Trung đoàn Pháo binh 58, Sư đoàn 308. Chúng tôi có nhiệm vụ bảo vệ một tiểu đoàn lựu pháo 122mm chi viện cho bộ binh trong các trận đánh hiệp đồng binh chủng. Trận địa lựu pháo ở đâu thì trận địa cao xạ cũng nằm gần đó để đánh trả máy bay địch.
Ngày 30-3-1972, tiếng súng mở màn Chiến dịch Quảng Trị bắt đầu thì ngày 1-4-1972, đơn vị tôi được lệnh hành quân vào Quảng Trị. Chiến dịch mới mở nên khí thế rất khẩn trương. Xe pháo hành quân theo những con đường mà công binh mới mở còn nồng mùi nhựa cây và mùi đất vừa bị máy ủi xới lên. Trên đường hành quân, chúng tôi gặp những đoàn dài bộ binh đi theo hàng một sát bên đường. Đa số họ đều trẻ như chúng tôi, với khẩu AK trước ngực, vai đeo ba lô con cóc cắm đầy lá ngụy trang. Rồi những đoàn dân công hỏa tuyến có cả nữ, chủ yếu mang vác hàng hóa ra chiến trường. Chúng tôi cũng gặp những xe tải gọi là đại xa chở những hòm đạn lớn cho các trận địa lựu pháo và pháo nòng dài...
    |
 |
Tác giả (đứng thứ tám, từ phải sang) trong lần trở lại "miền đất lửa" Quảng Trị.
|
Khoảng 5, 6 giờ chiều, chúng tôi được trên thông báo chuẩn bị vượt sông Bến Hải. Thời gian dừng chờ khá lâu vì có duy nhất một điểm vượt sông cho phương tiện cơ giới. Cả đoàn xe gồm xe pháo, xe tăng, xe lội nước xếp hàng chờ đến lượt. Lúc đó, mặt trận mới mở, đường vận chuyển chưa bị địch phát hiện nên không trung hoàn toàn im ắng, không một tiếng máy bay địch.
Sông Bến Hải thực tế không như tôi tưởng tượng. Ở thượng nguồn, vào mùa khô, sông rất hẹp và nông, lòng sông chỉ rộng chừng 40m, nước đến ngang lưng, hai bên bờ toàn cát sỏi. Lúc vượt sông, trừ lái xe, còn lại tất cả đều phải xuống lội bộ để đề phòng tai nạn. Sang tới bên kia sông Bến Hải, chúng tôi bắt đầu nhận thấy nhiều điều khác lạ hẳn so với bờ Bắc. Phía Tây Quảng Trị, phần giáp với rừng già là những gò đồi thấp mọc toàn cỏ tranh xen lẫn những bụi cây nhỏ hoặc cây lúp xúp. Tới khoảng 10 giờ đêm, sau một ngày hành quân, các khẩu đội đều đã giấu xe pháo vào những bụi cây nhỏ ven đường mới mở và đào hầm để ngủ qua đêm.
Lệnh của trên là từ lúc này trở đi không được ngủ trên mặt đất để tránh thương vong. Nhưng suốt đêm đó, chúng tôi không sao ngủ được vì thỉnh thoảng một vài tiếng nổ to như sấm lại vang lên. Không khí xung quanh như bị dồn ép lại khiến chúng tôi trằn trọc. Thì ra là tiếng nổ đầu nòng của pháo nòng dài 130mm bắn vào Đông Hà. Lúc đó Dốc Miếu, Cồn Tiên đã được giải phóng và ta đang tiến công giải phóng Đông Hà. Đêm đầu tiên bên kia sông Bến Hải đã cho chúng tôi cảm giác đến gần hơn với lửa đạn nơi chiến trường, điều mà trước đó chúng tôi chưa thể hình dung nổi!
Ký ức không quên
Qua một đêm nghỉ ngơi, chúng tôi tiếp tục hành quân. Sau 3, 4 ngày thì vào tới Quảng Trị, đại đội chúng tôi được trên giao nhiệm vụ mới là bảo vệ cầu Trúc Khê trên Quốc lộ 1. Trận địa của chúng tôi nằm trên một gò cát trắng ở rìa làng, cạnh Quốc lộ 1 và cách cầu khoảng 500m. Hai ngày đầu ở đây không có gì chứng tỏ đây là chiến trường vì dân cư của mấy làng quanh đó đã bỏ đi hết, ít tiếng bom đạn, có lúc còn im ắng hoàn toàn. Thỉnh thoảng có chiếc máy bay OV-10 đảo qua đảo lại. Nhưng đến ngày 7-4-1972, trận đánh đầu tiên để lại thương vong cho đại đội tôi đã đến.
    |
 |
| Bộ đội ta đánh chiếm cứ điểm địch tại Quảng Trị, năm 1972. Ảnh: ĐOÀN CÔNG TÍNH |
Khoảng giữa trưa hôm đó, chiếc OV-10 lượn đi lượn lại quanh khu vực cầu. Thấy hiện tượng khác thường, cả đơn vị vào vị trí sẵn sàng chiến đấu. Quả nhiên, một lúc sau, một tốp F-4 kéo đến. Nhận ra mục tiêu, chúng chọn hướng mặt trời, tăng độ cao rồi bổ nhào. Đại đội tôi tập trung hỏa lực của cả 4 khẩu đội bắn chiếc đầu tiên và cả 4 khẩu đội đều thông báo đã bắt được mục tiêu. Trong đơn vị, tôi là trắc thủ đo xa có nhiệm vụ dùng máy đo xa để đo khoảng cách từ mục tiêu đến trận địa. Lúc đó, tôi cũng đã bắt được mục tiêu và đo được cự ly bắn, tức thì cả 4 khẩu đội đồng loạt nổ súng. Những chùm đạn vun vút lao lên. Nhưng vì đây là loạt đạn đầu tiên và hơn nữa, đơn vị tôi chưa có nhiều kinh nghiệm trận mạc nên đạn còn cách xa mục tiêu nhiều. Chiếc F-4 vẫn bổ nhào và cắt được bom.
Trận địa của chúng tôi đã bị lộ và lập tức bị tấn công. Lại một chiếc F-4 tăng độ cao và bổ nhào. Trong máy đo xa, tôi thấy chiếc F-4 đang lao thẳng xuống trận địa, vài giây sau, 2 quả bom được tách ra khỏi bụng máy bay. Một loạt đạn nữa lại tung lên, nhưng ngay sau đó là tiếng nổ chát chúa làm rung chuyển cả trận địa. Không khí xung quanh bị ép lại, khói mù mịt, trận địa đã trúng bom. Sau khi ném trúng trận địa, tốp F-4 quần thảo một lúc, ném thêm vài quả bom nữa vào khu vực cầu rồi chuồn thẳng. Đây là lần đầu tiên chúng tôi bị đánh vào trận địa. Hơn 10 đồng chí bị thương và 3 đồng chí hy sinh, trong đó anh Thanh trẻ nhất, là sinh viên năm thứ hai Khoa Sinh học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, cùng nhập ngũ với tôi...
Sau một thời gian bảo vệ cầu Trúc Khê, chúng tôi về trận địa cũ. Và ngày 16-4-1972 với những tổn thất nặng nề nhất của đơn vị là ngày tôi không thể nào quên. Hôm đó, trời Quảng Trị trong và nắng gắt. Dưới cái nắng chói chang, hầm hập chỉ có ở dải đất miền Trung, chúng tôi vẫn duy trì bám trận địa và cảnh giới trên không. Tới khoảng giữa trưa xuất hiện một chiếc OV-10 lượn đi lượn lại quanh khu vực trận địa đơn vị. Một lúc sau, tốp F-4 kéo đến và mọi người đoán chắc chúng đã phát hiện ra đơn vị tôi. Một tiếng bụp quen thuộc vang lên, chiếc OV-10 bắn một quả pháo khói chỉ điểm vào khu vực trận địa. Lập tức có hai anh ở gần đó mang xẻng đào đất để dập quả pháo, nhưng chưa xong thì lại có tiếng bụp thứ hai. Chiếc OV-10 tiếp tục bắn quả nữa, sau đó tốp F-4 liên tục bổ nhào cắt bom vào trận địa.
Ngay loạt đầu tiên, một quả bom rơi trúng công sự của Khẩu đội 4 làm toàn bộ 6 người hy sinh. Lúc đó, tôi đang đứng dưới công sự cá nhân thì thấy Đại đội trưởng Nguyễn Hữu Định chạy sang thông báo sự việc và động viên chúng tôi chiến đấu trả thù cho đồng đội. Nhưng không ngờ đó lại là lần cuối tôi thấy anh Định. Bởi chỉ tạm dừng đánh mấy phút, một tốp F-4 khác lại kéo đến liên tiếp tấn công vào trận địa của chúng tôi, lần này chúng dùng cả bom phá, bom bi. Một quả bom phá rơi trúng sở chỉ huy, nơi có hầm thông tin, hầm cá nhân của Đại đội trưởng và Chính trị viên.
Thiệt hại ngày hôm đó là nặng nhất đối với đơn vị tôi trong toàn bộ chiến dịch. 6 người của Khẩu đội 4 hy sinh gồm: Anh Mâu (Khẩu đội trưởng) và anh Ngô Quang Ngọc cùng quê ở Gia Lâm, Hà Nội; anh Thường, người dân tộc Tày, quê ở Thái Nguyên; anh Chí quê ở Vĩnh Phú; anh Nguyễn Văn Đống, sinh viên năm thứ hai Khoa Hóa, là người có biệt tài cắt tóc rất đẹp và anh Thẩm Quang Oánh đã tốt nghiệp Khoa Vật lý, nhà ở phố Cửa Đông, Hà Nội. Ngoài ra, còn có 3 người khác ở sở chỉ huy bị trúng bom là anh Nguyễn Hữu Định, Đại đội trưởng, quê ở Ninh Bình; anh Nguyễn Văn Chương, Chính trị viên, nhà ở phố Lò Sũ, Hà Nội và anh Vũ Sỹ Lâm, sinh viên năm thứ ba Khoa Hóa, nhà ở phố Huế, Hà Nội. 3 anh hy sinh ở sở chỉ huy thi thể vẫn còn nguyên vẹn và được đơn vị an táng tại nghĩa trang mặt trận.
Sau trận đánh hôm đó, do thiệt hại quá nặng nề, đại đội tôi mất sức chiến đấu hoàn toàn và phải chờ tới đầu tháng 5-1972, sau khi ta giải phóng Đông Hà, đơn vị tôi mới được tăng cường, bổ sung người và xe pháo để tiếp tục tham gia chiến đấu.
Giờ đây hồi tưởng lại những ngày ở Quảng Trị, nhớ về những đồng đội đã ngã xuống năm ấy, tôi lại nghĩ tới hàng vạn liệt sĩ của chúng ta vẫn chưa được tìm thấy. Một số lần, tôi và đồng đội trở lại chiến trường xưa tìm kiếm các anh mà chưa được. Thế mới hiểu cái giá phải trả cho chiến thắng, cho hòa bình là rất lớn. Dẫu thời gian đã lùi xa, địa hình, địa vật thay đổi nhiều nhưng với sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền các cấp và sự nỗ lực đồng hành của các cựu chiến binh, tôi tin rằng niềm mong mỏi tìm thấy hài cốt liệt sĩ sẽ trở thành hiện thực!
LÊ VIỆT (Cựu lính sinh viên Khoa Vật lý, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội)