Ngay từ giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tờ báo tiền thân của Báo QĐND là Vệ quốc quân đã có 5 nhà văn “trụ cột” nổi tiếng, đó là: Thôi Hữu, Thâm Tâm, Trần Đăng, Hoàng Lộc và Vũ Cao. Trong đó, Thâm Tâm là tác giả nổi tiếng của phong trào Thơ mới trước năm 1945, từng được chọn vào tuyển tập “Thi nhân Việt Nam”, một ấn phẩm văn chương kinh điển. Sau khi Báo Vệ quốc quân sáp nhập với Báo Quân du kích thành Báo QĐND và phát hành số đầu tiên vào ngày 20-10-1950, tòa soạn được bổ sung những cây bút “đánh Tây” chủ yếu bằng thơ văn như: Vũ Tú Nam, Lê Kim... Đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tòa soạn có một thế hệ nhà văn sung sức như: Nguyễn Trần Thiết, Cao Tiến Lê, Trần Hữu Tòng, Dân Hồng, Xuân Miễn, Tô Phương, Anh Ngọc, Đặng Văn Nhưng, Nguyễn Hồng Hà...
Sau năm 1975, Báo QĐND tiếp tục được bổ sung thêm một thế hệ nhà văn mới, như: Hà Phạm Phú, Hà Đình Cẩn, Đỗ Trung Lai, Nguyễn Đình Chiến, Phạm Quang Đẩu, Trần Anh Thái... và một số nhà văn xuất hiện trong thời kỳ đổi mới, như: Hồng Thanh Quang, Mai Nam Thắng, Phan Tùng Sơn... Đội ngũ của Báo QĐND qua các thời kỳ hầu hết đều là các tác giả có những tác phẩm văn học tiêu biểu, có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, nhiều tác giả có tác phẩm được chọn vào sách giáo khoa phổ thông và giáo trình đại học. Thế hệ tiền bối của Báo QĐND có 3 tác giả được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học-nghệ thuật, đó là Thâm Tâm, Trần Đăng và Vũ Cao. Các thế hệ kế tiếp, có thêm 4 tác giả cũng được nhận giải thưởng cao quý này, đó là: Vũ Tú Nam, Cao Tiến Lê, Anh Ngọc và Trần Anh Thái.
Các thế hệ nhà văn của Báo QĐND hầu hết trưởng thành từ các đơn vị cơ sở, là chiến sĩ cầm súng trước khi cầm bút sáng tác. Trước sau họ vẫn kiên định là người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng-văn hóa của Đảng, sáng tạo nghệ thuật để phụng sự dân tộc và nhân dân. Nhiều người trong số họ trở thành những nhà quản lý có uy tín trong các cơ quan văn hóa nghệ thuật và báo chí của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Tiêu biểu như nhà văn Vũ Tú Nam từ Báo QĐND trở thành cán bộ Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị trước khi chuyển ra ngoài đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng của Hội Nhà văn Việt Nam và là đại biểu Quốc hội khóa IX. Nhà văn Đặng Văn Nhưng nhiều năm là Trưởng phòng Phát thanh QĐND, sau đó là Tổng biên tập Báo QĐND. Các nhà văn Cao Tiến Lê, Trần Hữu Tòng, Hà Phạm Phú, Hồng Thanh Quang... sau khi chuyển ngành đều tiếp tục phấn đấu và trưởng thành, đảm nhiệm những chức vụ quan trọng ở các cơ quan văn hóa, báo chí và văn hóa nghệ thuật...
Một điều thú vị là sự nghiệp văn chương của hầu hết nhà văn ở Báo QĐND đều có “duyên nợ” với Tạp chí VNQĐ. Nhiều người trưởng thành từ những tác phẩm đầu tay được in trên ấn phẩm văn chương sang trọng và uy tín này hoặc từ những cuộc thi sáng tác, những trại viết do Tạp chí VNQĐ tổ chức. Đặc biệt là nhiều nhà văn trưởng thành từ Báo QĐND đã được điều chuyển sang Tạp chí VNQĐ, tiếp tục sáng tác và đạt được những thành tựu về nhiều mặt. Trong số đó nổi bật có hai tác giả là nhà thơ Vũ Cao và nhà thơ Anh Ngọc.
Nhà thơ Vũ Cao sau kháng chiến chống thực dân Pháp được chuyển từ Báo QĐND sang công tác ở Tạp chí VNQĐ, trở thành Phó tổng biên tập rồi Tổng biên tập, trước khi chuyển ra làm Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội và Phó chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội. Ông là tác giả tuyệt phẩm Núi đôi-một bài thơ bi tráng và lãng mạn bậc nhất thời kỳ kháng chiến. Ngoài các tập thơ, Vũ Cao còn xuất bản nhiều tập truyện ngắn, như: Truyện một người bị bắt (1958), Những người cùng làng (1959), Em bé bên bờ sông Lai Vu (1960), Anh em anh chàng Lược (1965), Từ một trận địa (1973)... Không chỉ là tác giả tài năng, Vũ Cao còn là một nhà quản lý giỏi và là tấm gương về văn cách và nhân cách của một trí thức. Thời kỳ Vũ Cao đảm nhiệm cương vị Phó tổng biên tập rồi Tổng biên tập Tạp chí VNQĐ (1967-1980) là giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước khốc liệt nhất, tiếp đó là những khó khăn chồng chất của đất nước trong những năm đầu kết thúc chiến tranh. Nhưng đây cũng là thời kỳ rực rỡ trong lịch sử phát triển của Tạp chí VNQĐ. Các tác phẩm văn chương trên Tạp chí VNQĐ đã góp phần định hình một dòng văn học chủ lưu, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của toàn quân và toàn dân. Lãnh đạo một cơ quan toàn những văn nghệ sĩ là những người luôn mang trong mình những cá tính sáng tạo mạnh mẽ, là một công việc vô cùng khó khăn. Thế nhưng, Vũ Cao đã làm được điều đó một cách xuất sắc bằng chính nhân cách dung dị, khiêm cung và độ lượng của mình. Phong cách lãnh đạo của Tổng biên tập Vũ Cao không dựa trên mệnh lệnh hành chính mà dựa trên sự thấu cảm và tình người. Khả năng dung hòa các cá tính lớn của ông đã tạo ra một bầu không khí dân chủ, cởi mở và ấm áp tại tòa soạn. Sau năm 1980, Vũ Cao chuyển sang làm Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội. Ông được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học-nghệ thuật năm 2001.
Nhà thơ Anh Ngọc là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhà thơ Quân đội trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ông làm thơ từ khi còn công tác ở Binh chủng Thông tin liên lạc, từng đoạt giải cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ (1972-1973), sau đó được điều về làm phóng viên Báo QĐND và sang công tác tại Tạp chí VNQĐ cuối năm 1979. Một trong những thành tựu văn học nổi bật của ông khi ở Tạp chí VNQĐ là trường ca Sông Mê Kông bốn mặt. Tác phẩm này được thai nghén từ chính những trải nghiệm khốc liệt khi ông là phóng viên Báo QĐND có mặt tại Campuchia đầu năm 1979, thời điểm đất nước này vừa thoát khỏi thảm họa diệt chủng Pol Pot. Với tư cách một người lính, ông đã đến tận nhà tù Tuol Sleng, tận mắt chứng kiến những chứng tích diệt chủng man rợ. Cảm xúc phẫn nộ tột cùng trước cái ác và lòng thương xót vô biên đối với những kiếp người bị đọa đày đã cất lên những vần thơ bi tráng. Năm 2009, trường ca Sông Mê Kông bốn mặt mang về cho ông Giải thưởng văn học sông Mekong. Năm 2012, Đại tá, nhà thơ Anh Ngọc vinh dự được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học-nghệ thuật.
Xưa nay, các nhà văn làm báo vẫn được cho rằng “báo là nghề, văn là nghiệp”. Nhưng với các thế hệ nhà văn của Báo QĐND, “nghiệp” chính vẫn là “binh nghiệp”. Và dẫu trọn đời binh nghiệp, hay vì những lý do chung-riêng mà giải ngũ hay chuyển ngành, thì phẩm chất chiến sĩ vẫn vẹn nguyên trong cuộc sống cũng như trong sáng tác của họ. Và những thành tựu văn chương mà họ đạt được, đã góp phần tô thắm truyền thống anh hùng và văn hóa của Báo QĐND.
TUYÊN HÓA