Ông Khiếu năm nay 78 tuổi, dáng người cao, gầy, da đen sạm. Với giọng nói đặc trưng của miền sông nước An Giang, ông kể cho chúng tôi nghe về những ngày ông hoạt động cách mạng, rồi bị địch bắt và giam giữ ở Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam-Phú Quốc (Trại giam-Nhà tù Phú Quốc).
“Tôi sinh ra và lớn lên ở xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (nay là xã Kiên Lương, tỉnh An Giang). Năm 1960, tôi theo cha vượt biển đến Phú Quốc, đi làm thuê cho các chủ điền trồng hồ tiêu, cao su. Đầu năm 1968, tôi tình nguyện vào bộ đội, là chiến sĩ liên lạc thuộc Đại đội Phú Quốc, Tiểu đoàn 207, Tỉnh đội Kiên Giang”, ông Khiếu mở đầu câu chuyện.
    |
 |
| Ông Phù Xí Khiếu. Ảnh: THÁI KIÊN |
Những năm 1968-1972, ở Phú Quốc, quân địch đồn trú rất đông, trong khi lực lượng vũ trang của ta mỏng nên phải dựa vào rừng để tiến hành đánh du kích. “Chúng tôi chỉ đánh khoảng 10-15 phút, lâu hơn thì 30 phút, rồi nhanh chóng rút ngay vào rừng. Nhưng cũng có trận đánh kéo dài 2 giờ đồng hồ. Tôi nhớ trận đánh vào đầu năm 1969, địch tổ chức trận càn lớn. Chúng đi từng tốp, mỗi tốp khoảng 50-60 người. Lực lượng của ta chỉ khoảng một tiểu đội, chia thành các tổ, bố trí phục kích, nổ súng tiêu diệt tốp đi đầu. Những tốp địch đi sau thấy tốp trước bị phục kích thì hoảng sợ, chạy tán loạn. Chúng tôi đã chặn được trận càn của địch và may mắn không có ai hy sinh, chỉ có Tiểu đội trưởng Dương Tấn Đấu (Tư Đấu) bị thương ở bụng, nhưng không chịu cho ai khiêng. Ông Tư Đấu nay tuổi đã cao, sức khỏe yếu, hiện sống ở khu vực Cửa Dương, đặc khu Phú Quốc”, ông Khiếu kể.
Về hoàn cảnh mình bị địch bắt, ông Khiếu nhớ lại: “Khoảng 16 giờ một ngày cuối tháng 10-1971, tôi xin phép cấp trên tranh thủ về thăm nhà. Ở nhà chưa được bao lâu thì đã nghe tiếng người, tiếng bước chân rầm rập ngoài sân. Dường như bọn địch “đánh hơi” được thông tin có cán bộ Việt Cộng xuất hiện ở địa phương nên cho lính đi lùng sục. Không tìm thấy ai nên chúng giữ tôi lại và tra hỏi đủ thứ. Do tôi nhỏ người, lại mặc quần áo giống học sinh, nên tôi khai là học sinh. Không may đúng lúc đó, một tên chiêu hồi bước vào, hắn phát hiện ra tôi, liền hô: “Thằng này chắc chắn là Việt Cộng”. Thế là chúng bắt tôi, lôi về tạm giam ở chợ Phú Quốc. Sau một tuần vừa tra tấn, vừa dụ dỗ tôi chiêu hồi không thành, chúng đưa tôi về trại giam ở Cần Thơ. Một năm sau, vào tháng 10-1972, chúng đưa tôi về Trại giam Phú Quốc”.
Ở Trại giam Phú Quốc, ông Khiếu bị giam ở khu B4. Tại đây, địch tiếp tục tra tấn ông dã man, nhưng ông kiên quyết không khai gì với địch về tổ chức và lực lượng, làm tổn hại đến cách mạng. Ông Khiếu cho chúng tôi xem trên cơ thể với nhiều vết sẹo do những đòn tra tấn dã man của địch trong Trại giam Phú Quốc. Sau này, ông được xác định bị thương tật 45% (thương binh hạng 3/4).
“Ở trong tù, các phòng giam đều có tổ đảng hoạt động rất bí mật. Tôi được cấp trên tin tưởng giao làm cán bộ Đoàn Thanh niên trong nhà tù. Khi cấp trên chỉ đạo đấu tranh, đảng viên chuẩn bị phương án, sau đó liên hệ với bên Đoàn để phổ biến cho anh em. Tổ chức đảng và Đoàn Thanh niên thành lập Đội xung kích. Tôi là thành viên Đội xung kích. Đội xung kích ngoài việc đấu tranh trực diện với địch còn tiến hành tiêu diệt những tên ác ôn hay chiêu hồi theo chỉ định của cấp trên. Chúng tôi dặn dò anh em khi đấu tranh không được tách rời ra, phải chụm lại với nhau. Nếu tách rời ra là tụi gác ngục nó bắn liền”, ông Khiếu hồi tưởng những ngày ở trong Trại giam Phú Quốc.
Cuối tháng 3-1973, ông Phù Xí Khiếu được trao trả tự do theo Hiệp định Paris. Ông được đưa về điều trị, an dưỡng tại trại điều dưỡng thương binh ở Nho Quan, Ninh Bình, sau đó chuyển về Đoàn An dưỡng 585 ở Thanh Hóa. Khi sức khỏe hồi phục, ông được điều trở lại miền Nam, làm nhiệm vụ ở Bến Cát, Bình Dương.
Sau ngày 30-4-1975, ông là Trung sĩ, Tiểu đội trưởng thuộc Trung đội 1, Đại đội Đặc công nước thuộc Tỉnh đội An Giang. Sau 8 năm trong quân ngũ, tháng 6-1976, ông Khiếu xuất ngũ về sinh sống với gia đình ở ấp Bến Tràm, xã Cửa Dương, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (nay là khu phố Bến Tràm, đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang).
YÊN BÌNH