Đầu tháng 5-2026, chúng tôi cùng đoàn cựu tù giam Pleiku đến dâng hương tưởng niệm, tri ân các liệt sĩ tại Di tích lịch sử Trại tạm giam tù binh Pleiku. Nơi các chiến sĩ cách mạng đã nêu cao khí chất anh hùng và dũng cảm hy sinh, góp phần vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ông Nguyễn Văn Thuận, một trong những cựu tù Trại tạm giam tù binh Pleiku, cho biết: “Từ giữa năm 1966 đến tháng 9-1967, quân Mỹ-ngụy liên tiếp mở những trận càn lớn vào các căn cứ và vùng giải phóng của ta ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên... Nhiều chiến sĩ Quân giải phóng và chiến sĩ cách mạng của ta bị địch bắt rồi đưa lên Trại tạm giam tù binh Pleiku. Trại giam này rộng khoảng 7ha, được chia làm hai khu giam giữ. Tù binh ở trong hơn 40 căn nhà có cột kèo làm bằng sắt, bao xung quanh bằng tôn dày, có 3-4 lớp hàng rào kẽm gai, bãi mìn, bóng điện chiếu sáng ban đêm cùng với sự bảo vệ dày đặc của lực lượng quân cảnh.

Tại đây, Mỹ-ngụy đã giam giữ, đày đọa khoảng 4.000 cán bộ, chiến sĩ cách mạng. Để lãnh đạo cuộc đấu tranh với địch, ngày 3-2-1967, Chi bộ Đảng đầu tiên ở Trại tạm giam tù binh Pleiku ra đời, mang tên Chi bộ 3-2, do ông Nguyễn Kim Hùng làm Bí thư Chi bộ đầu tiên. Từ một chi bộ, sau này tổ chức đảng ở Trại tạm giam tù binh Pleiku phát triển thành Đảng bộ với hơn 20 chi bộ Đảng, là nơi sinh hoạt, rèn luyện của gần 250 đảng viên và hơn 400 đoàn viên, thanh niên cộng sản.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày đã liên tục đấu tranh, tuyệt thực, đòi thả tù binh, đòi hòa bình và cấm dùng cực hình tra tấn... Trong cuộc đấu tranh anh dũng đó, 240 chiến sĩ cách mạng đã anh dũng hy sinh để giữ trọn khí tiết anh hùng hướng về Đảng, Bác Hồ và ngày toàn thắng của dân tộc.

leftcenterrightdel
Các cựu tù Trại tạm giam tù binh Pleiku gặp gỡ, ôn lại những ngày tháng đấu tranh với địch. 

Sau khi dâng hương viếng đồng đội, ông Võ Ngọc Bửu (84 tuổi) ở số nhà 76 Nguyễn Lương Bằng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai, cho biết: “Ngày 12-6-1969, lúc đó tôi phụ trách đội xây dựng cơ sở nội thị Pleiku đang đi tuyên truyền, vận động người dân, nhất là bà con dân tộc Gia Rai, Ba Na tham gia cách mạng, thì bị địch bắt. Sau 2 năm chúng giam ở Trại tạm giam tù binh Pleiku và nhà lao Pleiku, bằng nhiều hình thức như mua chuộc, nhốt chuồng cọp, tra tấn, đánh đập dã man, nhưng tôi không khai báo gì liên quan đến tổ chức, đến cơ quan, đơn vị. Năm 1971, sau những trận đòn roi chết đi sống lại nhưng không khai thác được thông tin gì, kẻ thù đành chuyển tôi ra Nhà tù Côn Đảo. Ở đây, tôi và đồng đội tiếp tục đấu tranh. Đến tháng 5-1975, tôi cùng đồng đội được quân và dân ta giải phóng khỏi nhà tù. Kế tục sự nghiệp cách mạng, được trở về địa phương, tôi tiếp tục làm việc, từ cán bộ phòng, ban, rồi phát triển lên Phó bí thư Thường trực Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Pleiku và nghỉ hưu năm 2006”.

Không giấu được niềm vui khi gặp lại bạn bè, đồng đội, ông Nguyễn Văn Thuận ở tổ 12, phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai, kể với chúng tôi: “Đầu năm 1967, tôi bị địch bắt khi đang chiến đấu và bị thương ở Trung đoàn 6, Trị Thiên-Huế. Sau một năm bị giam ở Trại tạm giam tù binh Pleiku với những trận đòn roi, tra tấn dã man, kẻ thù đã bất lực trước ý chí kiên cường của tôi cũng như các chiến sĩ cách mạng ở đây. Đầu năm 1968, địch chuyển tôi ra Nhà tù Phú Quốc. Đến năm 1973, thực hiện Hiệp định Paris, tôi cùng một số anh em chiến sĩ cách mạng được địch trao trả cho phía ta. Những tháng năm bị địch bắt giam, tù đày là những ký ức đau thương, nhưng tôi luôn cố gắng vượt lên trong cuộc sống, công tác và là tấm gương để con cháu học tập, noi theo...”.

Bài và ảnh: LÊ QUANG HỒI