Nguyễn Thành Do sinh năm 1948, tại tỉnh Bạc Liêu (nay là tỉnh Cà Mau). Năm 1968, chàng thanh niên Nguyễn Thành Do nhập ngũ, được biên chế về Trung đoàn 1-U Minh. Những ngày đầu quân ngũ, Sáu Do đã nếm trải sự khốc liệt của chiến tranh tại “vành đai lửa” lộ Vòng Cung (Cần Thơ). Đó là những đêm trắng bám trụ trong công sự, pháo bầy của địch bắn dồn dập liên hồi; là những cuộc hành quân thần tốc dưới tán dừa bị xé toạc bởi mảnh bom. Sau những đợt thử lửa đó, Sáu Do cùng đơn vị chuyển xuống địa bàn Long Mỹ, Vị Thanh (nay thuộc TP Cần Thơ). Nhờ chiến đấu dũng cảm, Sáu Do được tin tưởng giao trọng trách Đại đội trưởng Đại đội súng máy 12,7mm.
Tháng 3-1973, tại vùng Kinh Cùng, xã Hòa An, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (nay là xã Hòa An, TP Cần Thơ), địch huy động hơn 30 chiếc xe bọc thép M113 phối hợp với bộ binh đánh vào các vị trí của ta. Trong làn mưa pháo bắn rát, quan sát thấy tình thế hiểm nguy, Sáu Do lệnh cho đơn vị nhanh chóng rút xuống hầm bí mật để bảo toàn lực lượng. Là người chỉ huy, ông rút cuối cùng. Khi chuẩn bị bước xuống hầm, ông giật mình khựng lại: Phía trên công sự, chiếc máy thông tin PRC-25 của đơn vị vẫn chưa được đưa xuống. “Tôi lao lên giữa làn đạn để ôm lấy chiếc máy thông tin. Vừa chạm tay vào máy, một quả pháo địch nổ sát bên và cánh tay trái của tôi giập nát. Tôi ngã xuống nhưng tay kia vẫn còn ôm chặt lấy chiếc máy thông tin liên lạc của đơn vị”, ông Sáu Do kể.
Hành trình từ trận địa về tuyến sau là một ký ức kinh hoàng đối với ông. Suốt 10 giờ lênh đênh, chiếc xuồng ba lá đưa ông Sáu Do về tuyến sau chữa trị. Khi về đến đội phẫu thuật Kinh Bái (thuộc vùng căn cứ Trung đoàn) lúc 7 giờ sáng hôm sau, vết thương của ông đã bắt đầu hoại tử, máu ra quá nhiều khiến cơ thể ông tái xanh, sự sống bị đe dọa. Do điều kiện chiến trường thiếu thốn thuốc men, đơn vị không còn thuốc gây mê hay thuốc tê, bác sĩ Hoàng Mảnh nói với ông: “Sáu ơi, phải làm ngay thôi, không chờ được nữa”. Không một lời than vãn, Sáu Do gật đầu, nghiến chặt răng. Ca phẫu thuật cắt bỏ cánh tay được thực hiện “sống”. Từng nhát dao cắt vào da thịt đau đớn khôn cùng, nhưng người lính ấy vẫn kiên cường chịu đựng...
    |
 |
| Cựu chiến binh Nguyễn Thành Do (thứ hai, từ trái sang) cùng các đồng đội Trung đoàn 1-U Minh. |
Dù chỉ còn một cánh tay, ông Sáu Do vẫn kiên quyết không rời quân ngũ. Ông tự tập làm mọi việc chỉ với một tay còn lại. Tinh thần thép ấy đã khiến Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Phạm Văn Trà (sau này là Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) dành cho ông một niềm tin đặc biệt. Ông thường nói với các cán bộ, chiến sĩ: “Thằng Sáu Do nó còn một tay, nhưng tinh thần nó bằng hai, bằng ba người khác”.
Trong những trận đánh sau đó tại Ngã Năm, Kinh 13, đồng chí Phạm Văn Trà luôn tin tưởng giao cho Sáu Do những nhiệm vụ quan trọng. Ông biết rằng, với sự am hiểu địa hình và bản lĩnh trận mạc, Sáu Do sẽ biết cách bố trí trận địa hỏa lực để bẻ gãy các mũi lấn chiếm của địch hiệu quả nhất.
Khi miền Nam giải phóng năm 1975, ông vẫn tiếp tục cầm súng bảo vệ biên giới biển, đảo tại Phú Quốc, Thổ Chu trước sự xâm lược của quân Pol Pot. Năm 1977, ông bày tỏ nguyện vọng được trở về xây dựng quê hương và được cấp trên đồng ý.
Trở về quê hương, thương binh hạng 2/4 Sáu Do bắt đầu một hành trình mới. Nhận thấy mình “chỉ giỏi đánh giặc”, còn kiến thức văn hóa quản lý hạn chế, ông đã bắt đầu học từ những lớp bổ túc văn hóa ban đêm, rồi lên TP Hồ Chí Minh học chính trị tại Trường Nguyễn Ái Quốc II (nay là Học viện Chính trị khu vực II).
Sự tận tụy và năng lực của ông đã được lãnh đạo địa phương ghi nhận, ông dần trưởng thành qua các vị trí Trưởng phòng, rồi Phó giám đốc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Minh Hải (nay là tỉnh Cà Mau) khi mới 38 tuổi. Trên các cương vị công tác, bằng sự thấu cảm của một người đi qua lửa đạn, ông đã hết lòng làm việc, chăm lo chính sách thương binh, liệt sĩ ở địa phương.
Bài và ảnh: HỮU TÀI