Mùa khô năm 1966, tôi ở trạm barie gần trọng điểm ngầm Cà Roòng trên Đường 20 Quyết Thắng. Đơn vị pháo cao xạ hành quân qua đây thì bị máy bay đánh vào đội hình. Trận bom đã gây thiệt hại lớn cả người và xe, pháo. Hơn 10 người hy sinh, bị thương, đơn vị thanh niên xung phong thuộc Đội N23 bảo đảm giao thông khu vực ngầm đã phối hợp cùng đơn vị làm công tác thương binh, tử sĩ. Trong khi xử lý hậu quả, tôi nhớ mãi hình ảnh một chiến sĩ vóc dáng to cao, vạm vỡ, xông xáo làm đủ mọi việc để giải phóng nhanh đội hình trước khi trời sáng. Sau trận bom ít ngày, lại gặp anh lái xe vào kho nhận đạn, lương thực, thực phẩm, tôi mới biết anh cùng quê Thanh Hóa. Trong chiến tranh, đồng hương gặp nhau quý lắm, nhiều khi hay tếu táo “cẩn thận giữ “gáo”, sau về quê gặp nhau”. Đầu năm 1967, tôi về công tác tại Ban Tham mưu vận chuyển Binh trạm 14, từ đó chúng tôi không gặp lại...

Chiến tranh kết thúc, chúng tôi gặp nhau trong dịp kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam  (tháng 12-1994) tại huyện nhà. Anh là đại biểu con em quê hương thành đạt. Gần 30 năm gặp lại, vừa mừng, vừa tủi, chúng tôi cùng ôn lại ký ức một thời trận mạc.

Anh Tường cho biết: “Cuối năm 1967, đơn vị kéo pháo ra bảo vệ khu vực phà Xuân Sơn trên Đường 15 và tham gia trận đánh tháng 1-1968 ở bờ Bắc bến phà. Hôm đó, sau khi đơn vị bắn rơi 2 máy bay, địch cay cú tập trung quần thảo đánh vào trận địa hàng tiếng đồng hồ, nhiều chiến sĩ hy sinh, bị thương và pháo hư hỏng. Trong đêm, tôi lái xe đưa thương binh về bệnh xá trung đoàn, rồi kéo pháo di chuyển sang bờ Nam Xuân Sơn, xây dựng trận địa mới khu vực cửa rừng Đường 20. Trong quá trình làm công tác thương binh, tử sĩ, may mắn có sự phối hợp, giúp đỡ của các nữ dân quân từ làng Cù Lạc bên bờ Nam sang. Sau ngày Mỹ ngừng đánh phá miền Bắc, Đường 20 từ biên giới trở ra không còn bom đạn, đơn vị vào sâu bảo vệ khu vực cửa khẩu và trọng điểm A-T-P. Hằng ngày, lái xe nhận đạn dược, lương thực, thực phẩm tại cụm kho C cây số 69, 70 của Binh trạm 14, phải vượt qua trọng điểm, nhiều khi chạy ban ngày ở những con đường kín vừa mở. Suốt mùa vận chuyển 1969-1970, chiến đấu gian khổ, song so với các đơn vị công binh, thanh niên xung phong bám giữ mặt đường, chịu đựng bom đạn suốt ngày đêm, lính pháo đỡ gian khổ hơn nhiều. Đầu năm 1971, Mỹ-ngụy mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh vào vùng Hạ Lào hòng cắt đứt “dạ dày” tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn. Đơn vị nhận lệnh hành quân tham gia chiến dịch. Khi kéo pháo vào trận địa, địch đánh ác liệt, dốc trơn cao 300-400m, xe không thể vượt qua được, nếu không giải quyết kịp thời sẽ nguy hiểm đến xe, pháo và tính mạng. Trong tình huống đó, tôi nghĩ ra sáng kiến cùng đồng đội hạ pháo xuống, nhả tời ra, sang bên kia buộc vào gốc cây rồi quay đầu xe tời, lại đưa pháo lên. Suốt cả đêm hôm đó, chúng tôi mới tời hết 6 khẩu pháo qua được con dốc để kịp phục vụ cho chiến dịch”.

leftcenterrightdel

Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Công Tường (thứ hai, từ trái sang) gặp mặt cựu chiến sĩ Trường Sơn. Ảnh: YÊN ĐỊNH

Tổng kết chiến dịch, anh Tường được bầu là Chiến sĩ Quyết thắng và được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Đầu năm 1972, đơn vị anh nhận lệnh hành quân về Quảng Trị phối hợp tham gia chiến dịch xuân hè. Ngày 15-5-1972, ở bến Than (Quảng Trị), trong lúc máy bay địch ném bom cháy vào trận địa, trong tình thế hiểm nghèo, anh xông vào dập lửa, kéo pháo. Hành động dũng cảm của anh đã cổ vũ đơn vị làm theo, cứu được 2 khẩu pháo, tiếp tục chi viện cho bộ binh chiến đấu. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, đơn vị bắn rơi 2 máy bay, tiêu diệt nhiều lính ngụy. Chính trong trận chiến 81 ngày đêm khốc liệt này, anh bị thương ở bụng và chân, sau khi được sơ cứu vẫn tiếp tục tham gia chiến đấu cùng đồng đội. Nhớ lại những kỷ niệm chiến đấu, anh Tường xúc động kể: “Tôi không bao giờ quên và day dứt cho đến tận bây giờ về trường hợp hy sinh của đồng đội tên Bình quê Hà Bắc. Cậu ấy mới 20 tuổi, khi vào trận còn nói: “Xong trận này, anh cho em về phép lấy vợ nhé”. Vậy mà Bình không kịp thực hiện ước mơ”. 

Tháng 5-1973, anh Tường cùng một số cán bộ, chiến sĩ được cử ra miền Bắc báo cáo điển hình và nói chuyện về những trận đánh tiêu biểu trên chiến trường Quảng Trị. Đi đến đâu, anh cũng được các cơ quan, đơn vị và nhân dân đón tiếp ân cần, chu đáo. Anh nghĩ đó là niềm vinh dự, tự hào của cả tập thể, biết bao đồng đội đã ngã xuống để có ngày hôm nay. Tổng kết chiến dịch xuân hè năm 1972 và chiến dịch bảo vệ cảng Cửa Việt, anh được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì. Ngày 31-12-1973, anh Nguyễn Công Tường vinh dự nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân khi mới 30 tuổi...

Sau ngày 30-4-1975, Anh hùng Nguyễn Công Tường tiếp tục công tác trong Quân đội cho đến khi nghỉ hưu với quân hàm Thượng tá. Trở về quê, anh tiếp tục tham gia hội cựu chiến binh. Các trường học mời anh nói chuyện về truyền thống Quân đội, về những năm tháng chiến đấu trên chiến trường. Trong những câu chuyện kể, anh khiêm tốn, cởi mở, hòa nhập cùng thầy, cô giáo và các cháu học sinh. Trải qua 3 nhiệm kỳ là Chủ tịch Hội truyền thống Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh huyện Yên Định, anh cùng tập thể xây dựng huyện hội là đơn vị liên tục dẫn đầu của tỉnh Thanh Hóa. Tháng 7-2025, thực hiện chủ trương chính quyền địa phương hai cấp, anh nghỉ công tác ở hội Trường Sơn cấp huyện nhưng vẫn tham gia Ban Chấp hành Hội truyền thống Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh tỉnh Thanh Hóa. Năm nay, ở tuổi ngoài 80, dù vết thương hành hạ mỗi khi trái gió trở trời, nhưng khi được hỏi, anh vẫn cười rằng: “Nếu được chọn, tôi vẫn muốn làm người lính”.

LÊ TRUNG KHIÊN