Tháng 4-1970, khi 18 tuổi, Hoàng Đình Chiến rời quê hương xã Tam Kỳ, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương lên đường nhập ngũ về Đại đội 4, Trường lái xe 255 (nay là Trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật ô tô, Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật). Sau thời gian huấn luyện, tháng 10-1970, Hoàng Đình Chiến được biên chế về Tiểu đội 6, Trung đội 2, Đại đội 23, Tiểu đoàn 60, Binh trạm 32, Bộ tư lệnh Trường Sơn.
Khi đã quen thuộc cung đường, tay lái của ông Chiến ngày càng vững vàng, kinh nghiệm dày dạn hơn. Vì vậy, đồng chí Bắc, Trung đội phó Trung đội 2 đã giao cho ông phụ trách một xe riêng. Ông kể: “Ngày ấy, Đại đội thành lập Tổ mũi nhọn, gồm 6 xe chạy lấn ngày. Ngoài vận chuyển hàng hóa, thương binh, khi có tình huống, chúng tôi còn làm nhiệm vụ nghi binh, thu hút địch. Trên cung đường dài khoảng 100km, một tháng ai hoàn thành 15 chuyến sẽ được tặng thưởng huân chương, nhưng rất ít người đạt chỉ tiêu. Khi cơ động, chúng tôi không được bật đèn trước, mà phải bám theo ánh sáng đèn rùa và ánh trăng để di chuyển. Lúc xuất phát, cả tổ đi theo đội hình quy định, nhưng dọc đường, mỗi xe phải tự tìm đường, tự xử lý tình huống. Mục tiêu lớn nhất của chúng tôi là bảo đảm an toàn cho người và xe, đồng thời đưa hàng đến nơi đúng kế hoạch. Những chuyến đi giữa sự đánh phá ác liệt của máy bay địch, qua những cung đường xấu, nhiều đèo dốc, trơn lầy và ngầm suối nước còn chảy xiết. Dù gian khổ nhưng năm 1971, trong Chiến dịch Đường 9-Nam Lào, tôi xung phong vượt cung, tăng chuyến, nhiều tháng đi cả 30 ngày, vượt chỉ tiêu đề ra, dẫn đầu đơn vị về năng suất vận chuyển và được cấp trên khen thưởng”.
Giữa tháng 3-1971, ông Hoàng Đình Chiến cùng đồng chí Nguyễn Đức Vượng, Chính trị viên phó Đại đội 23 nhận nhiệm vụ đưa hàng vào Binh trạm 33. Sau khi trả hàng xong, trên đường trở về đến chân đèo Tha Mé, ông thấy nhiều xe khác nối dài ở rìa đường. Sau khi tìm hiểu, ông biết được phía bên kia đèo còn một quả bom từ trường chưa nổ. Lực lượng công binh đang lên phương án để xử lý nên đường chưa được giải phóng.
Ông Chiến nhớ lại: “Sau khi xin ý kiến chỉ huy của các cấp, tôi đề nghị anh Vượng xuống xe để đi một mình, nhưng anh không đồng ý, quyết tâm cùng tôi thông đường. Khi đi được hơn nửa quãng đường, thấy xuất hiện cờ báo hiệu, biết là sắp đến vị trí quả bom, tôi bèn đạp chân ga tăng tốc lao qua. Ngay sau đó, một tiếng nổ vang trời. Xe của tôi bị hất văng, mọi thứ trước mắt tôi tối sầm lại. Khi tỉnh dậy, tôi cảm nhận rõ những vết thương ở cổ, tay, chân; máu chảy nhiều từ miệng, mũi và tai. Còn đồng chí Chính trị viên phó ngồi bên ghế phụ cũng bị thương nhưng nhẹ hơn. Lực lượng công binh và thanh niên xung phong nhanh chóng có mặt đưa chúng tôi đi cấp cứu và khắc phục hố bom, hỗ trợ đưa xe hỏng về đơn vị sửa chữa. Dù bị thương nặng nhưng chúng tôi đã góp phần giải phóng tuyến đường, tạo điều kiện cho các xe và đơn vị bạn tiếp tục đưa hàng vào tuyến trong”.
Sau khi điều trị vết thương, ông Chiến tiếp tục lái xe vận chuyển trên tuyến đường Trường Sơn và Đông Nam Bộ. Tại đơn vị, ông luôn dẫn đầu về khối lượng vũ khí, đạn dược đưa đến tận các trận địa cho chiến sĩ. Trong quá trình làm nhiệm vụ vận tải từ năm 1971 đến 1975, ông Chiến đã vận chuyển được gần 1.400 tấn hàng tới đích an toàn, chuyển khoảng 900 chiến sĩ từ miền Bắc vào chiến trường và 480 thương binh về tuyến sau. Ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc ấy, tháng 10-1976, lái xe Hoàng Đình Chiến được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.
PHƯƠNG NINH