Hai hôm sau thì Hồng Thanh Quang, biên tập viên Phòng Thời sự quốc tế của Báo từ Hà Nội vào. Chúng tôi nhanh chóng tìm cách sang Bộ tư lệnh Mặt trận 979 Quân tình nguyện, bấy giờ đang đóng cạnh sân bay Pochentong. Sau 3 ngày làm việc với các cơ quan chức năng ở Bộ tư lệnh Mặt trận, chúng tôi được Trung tá Trần Bá Điềm, Trưởng phòng Tuyên huấn “tiết lộ bí mật”: Sáng mai có trực thăng của thủ trưởng lên Pailin. Phòng Chính trị có thể thu xếp cho chúng tôi “bám càng”. Tất nhiên là chúng tôi mừng như bắt được vàng, bởi Pailin đang là địa bàn trọng điểm của chiến trường Campuchia lúc đó. Ý đồ của địch là sau đợt rút Quân tình nguyện Việt Nam sắp tới, chúng sẽ đánh chiếm lại toàn bộ Battambang để lập “vùng giải phóng”. Sư đoàn 330 của ta đang trấn giữ hướng đó...
Mờ sáng 17-5-1989, chúng tôi có mặt ở sân bay. Chiếc trực thăng mang số hiệu 7803 đã nổ máy chờ sẵn. Thì ra chúng tôi được “bám càng” Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, Phó tổng Tham mưu trưởng. Những chuyến bay đặc biệt ở chiến trường là hết sức nguyên tắc, nhưng nghe nói khi Văn phòng Mặt trận 979 báo cáo trường hợp của chúng tôi đã được linh hoạt ưu tiên... Sau này tôi được biết: Trước năm 1945, ông Lê Ngọc Hiền từng tham gia làm Báo Độc lập của Đảng Dân chủ Việt Nam; những người sáng lập tờ báo này đều là những trí thức cách mạng nổi tiếng, như Dương Đức Hiền, Nguyễn Đình Thi...
    |
 |
| Tác giả (ngoài cùng, bên trái) chụp ảnh cùng quân và dân xã Phlaumia ở Pailin (Campuchia), ngày 26-5-1989. |
Sau hơn 1 giờ bay, trực thăng đáp xuống một khoảnh đất gần khu vực cơ quan Sư đoàn bộ Sư đoàn 330. Sư đoàn trưởng ra đón đoàn và dẫn mọi người đi bộ đường rừng chừng hơn nửa tiếng mới về đến Sở chỉ huy. Ông là Nguyễn Văn Thanh, nhưng mọi người quen gọi là “Ba Chơi”. Đến nay tôi vẫn chưa được biết sự tích của cái danh xưng thân mật trên đây. Ông Ba Chơi trực tiếp gọi điện xuống Phòng Chính trị, kêu người lên đón hai nhà báo Quân đội từ Hà Nội sang. Ngay buổi chiều hôm đó, chúng tôi được một đồng chí trợ lý Ban Tuyên huấn dẫn xuống Tiểu đoàn quân y, cũng đồng thời là Trạm xá tuyến 2 của Sư đoàn. Tiểu đoàn trưởng quân y là Đại úy Hồng Nhật Hùng, quê ở Nghệ An. Anh Hùng nhập ngũ năm 1972, được đi học y tá rồi điều về hải quân. Sau năm 1975, anh đã có mặt ở đảo Sơn Ca và Phan Vinh của quần đảo Trường Sa. Giữa năm 1979, Hùng được vào bờ đi học chuyên tu bác sĩ, đến năm 1982 tốt nghiệp là sang Campuchia...
Hùng kể: Trước đây ta thường chủ động mở chiến dịch vào mùa khô, còn địch thì thường chủ động quấy phá vào mùa mưa. Nhưng vài năm nay thì quanh năm có địch, quanh năm truy quét. Mùa nào cũng có những khó khăn, vất vả riêng. Chẳng hạn như mùa mưa thì không phải lo lắng chuyện nước nôi cho thương, bệnh binh. Tăng gia sản xuất để cải thiện cũng thuận lợi. Nhưng bệnh tật dễ phát sinh, muỗi vắt nhiều, việc vận chuyển thương, bệnh binh cũng rất gian truân... Tiêu chuẩn bữa ăn của thương, bệnh binh ở đây, ngoài mỗi ngày 900 đồng tiền Việt Nam, phía bạn còn hỗ trợ thêm từ 300 đến 500 riel. Nghe thế thì cao nhưng thức ăn khan hiếm nên thất thường lắm. Có khi anh em vào đợt sau lại được ăn truy lĩnh cả tiêu chuẩn những người đã ra viện vì hồi đó không mua được thực phẩm...
Xuống trạm xá, ngồi đâu cũng nghe anh em kể chuyện sốt rét, bị phục kích, bị mìn phạt chân... Tháng trước, Thiếu tá Châu Văn Nghĩa, Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, đi kiểm tra địa hình thì gặp địch phục kích. Anh Nghĩa bị thương nặng, ra lệnh cho anh em rút còn anh thì ở lại chặn địch. Mọi người đề nghị cõng anh theo, Nghĩa cáu lên, bảo “rút ngay!”. Có người rơi nước mắt, Nghĩa động viên và dặn: Chỉ nhờ anh em đồng đội giúp đỡ dựng cho vợ con một ngôi nhà. Bao nhiêu năm nay vợ con anh ở Cửu Long vẫn chưa có ngôi nhà riêng để ở...
Tôi tranh thủ hỏi chuyện hai thương binh trẻ nằm chung một tấm sạp. Hạ sĩ Võ Hùng Sơn là lính Trung đoàn 3, quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh Tiền Giang. Sơn mồ côi bố, chỉ còn mẹ già. Nhà có 8 chị em, Sơn là con trai độc nhất, nhập ngũ tháng 2-1986. Trong lúc đang truy kích địch, Sơn bị một mảnh đạn cối phang vào chân. Trung sĩ Phan Minh Châu nằm cạnh Sơn, là người Mỏ Cày, Bến Tre, hơn Sơn 6 tuổi. Tháng trước, trong một trận chiến đấu, tiểu đội của Châu đào hào lấn dũi vào sát trận địa của địch. Nghe tiếng xẻng, địch tập trung hỏa lực bắn ra, anh em mình đánh trả quyết liệt. Châu mang theo 8 quả B41 đã bắn hết 6 quả. Một quả cối của địch nổ ngay sau lưng, Châu bị mảnh cối găm vào chân và lưng. Người em trai ruột của Châu cũng đang chiến đấu ở Tà Sanh, nhưng không rõ ở đơn vị nào...
    |
 |
| Tác giả (bên trái) và Đồng chí Nguyễn Văn Thanh (Ba Chơi), tại Sở chỉ huy Sư đoàn 330 ở Pailin (Campuchia), ngày 20-5-1989. Ảnh do tác giả cung cấp |
Được tin Trung đoàn 1 vừa kết thúc đợt truy quét địch mới trở về, chúng tôi xin phép bám theo ô tô chở hàng của Phòng Hậu cần để lên Vườn Nhãn, nơi hạ trại của Trung đoàn 1. Đó là một vùng vườn tược khá rộng và bằng phẳng, có lẽ trước kia là trang ấp của một chúa đất nào đó. Trong vườn chủ yếu là xoài và nhãn, có cả một cánh đồng mía bạt ngàn dễ đến vài năm không ai chặt nên mía trổ cờ phất phơ như lau sậy um tùm...
Đất nước Campuchia mênh mông xa lạ thế, vậy mà cũng có những cuộc tái ngộ thật thú vị. Hôm Hồng Thanh Quang đi tàu Thống Nhất từ Hà Nội vào Sài Gòn, ngồi cạnh một anh bộ đội, chuyện trò trên trời dưới bể với nhau suốt hơn hai ngày đêm, rồi chia tay nhau ở ga Sài Gòn. Nào ngờ hôm nay lên Vườn Nhãn, lại gặp anh ta ở đây. Anh là bác sĩ Hoàng, tốt nghiệp Học viện Quân y ở Hà Đông năm 1984, sang đây từ năm 1985, mới được nghỉ phép về quê cưới vợ. Tôi cũng có một cuộc gặp bất ngờ và thú vị: Hôm đi xe khách từ Sài Gòn sang Phnom Penh, tôi ngồi cạnh một chiến sĩ quân tình nguyện cũng vừa đi phép về quê. Chia tay nhau ở Phnom Penh, nào ngờ hôm nay lại chạm nhau ở đây. Anh tên là Dưỡng, ở tiểu đoàn pháo binh tăng cường...
Người quen ấn tượng nhất ở Vườn Nhãn phải kể đến anh Bảy Đùm. Hôm nọ ở Sư đoàn bộ, tôi đã tình cờ gặp anh, lúc anh đang hăng hái tranh luận hay báo cáo gì đó với mấy cán bộ tham mưu Sư đoàn: “Địch phía này không hình thành tiền duyên, không phòng ngự theo thế liên hoàn mà bố trí từng chốt riêng rẽ. Vậy thì phải đánh cách khác chứ? Bây giờ vẽ trên sơ đồ thuyết minh thì dễ, chứ trên thực địa thì biết bao xương máu anh em đã đổ. Nói thật nhé: Khu vực này tôi cam đoan chỉ cần một “dê” (tiểu đoàn), đòm vài quả pháo là chúng chạy như vịt...”.
Cái khẩu khí của một viên đại úy trước mặt cấp trên khiến tôi chú ý. Thoạt đầu tôi cứ tưởng Bảy Đùm là biệt hiệu, gặp nhau ở Vườn Nhãn chuyện trò, mới hay đó là tên cúng cơm của anh. Em kế của anh làm bí thư huyện ủy cũng tên là Tám Túm. Quê anh ở Châu Thành, Tiền Giang. Nhà nghèo nên học hành lẹt đẹt mãi vẫn không qua nổi lớp 5. Hồi Mỹ đổ quân vào miền Nam, anh vừa 16 tuổi, trốn theo bộ đội địa phương. Mậu Thân 1968, anh đã có mặt ở Campuchia; sau năm 1970 được về nước, đi học văn hóa cấp hai, rồi học quân chính để làm sĩ quan phân đội. Chẳng biết có phải vì anh văn hóa thấp, chưa qua trường lớp chính quy, hay vì cái tính thẳng thắn, nóng nảy mà kịch trần đại úy đã vài niên hạn vẫn chưa được “vận dụng” chế độ gì. Nhiều người tỏ ý tiếc cho anh, thế mà anh thì cứ luôn mồm bảo: “Nhân bất học bất tri lý. Tao ít học nên kịch trần đại úy”.
Thấm thoắt đã 37 năm. Những câu chuyện, tên đất, tên người... mà tôi ghi chép đầy cuốn sổ tay trong chuyến công tác ở mặt trận Pailin năm ấy, vẫn hằn sâu trong ký ức. Bởi đó là một trong những chuyến công tác ấn tượng nhất trong cuộc đời làm báo của tôi...
MAI NAM THẮNG