Đó là một tờ tin đơn sơ, in bằng kỹ thuật thô sơ giữa chiến trường, nhưng lại có sức sống đặc biệt đối với cán bộ, chiến sĩ.

Chúng tôi vừa là người viết, vừa là biên tập viên, họa sĩ trình bày, phát hành báo. Ban ngày bám đơn vị, xuống đại đội, trung đội để nắm tình hình chiến đấu, đời sống bộ đội; ban đêm chụm đầu bên ngọn đèn dầu hoặc ánh đuốc rừng để viết bài. Giấy thiếu, mực thiếu, nhưng tình cảm dành cho tờ báo thì chưa bao giờ thiếu.

Người làm báo thời chiến thực chất là người lính trên mặt trận tư tưởng. Nhà báo phải đi cùng bộ đội trong hành quân, chiến đấu, tải thương, tải đạn. Có lúc vừa viết bài xong thì trận đánh nổ ra, lại cầm súng chiến đấu như mọi chiến sĩ khác.

Tôi nhớ mãi những đồng nghiệp đầu tiên của mình như: Thế Tiến, Mộng Tỉnh, Lê Doãn Hợp... (tờ tin Sư đoàn 5). Mỗi người một cá tính, một cách viết, nhưng đều chung ngọn lửa đam mê làm báo giữa chiến trường. Sau này anh Lê Doãn Hợp trở thành Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, nhưng mỗi lần gặp lại, chúng tôi vẫn nhắc chuyện làm báo thời chiến với biết bao xúc động.

leftcenterrightdel
 Nhà báo Trần Thế Tuyển (ngoài cùng, bên trái) cùng với đoàn công tác của Báo Quân đội nhân dân tại Campuchia, năm 1990. Ảnh: TRẦN LƯU

Ngày ấy, phóng viên trong chiến tranh đúng nghĩa là lính chiến thực thụ. Nhà báo không đứng ngoài cuộc chiến để quan sát mà sống trong lòng cuộc chiến. Có khi đang ghi chép thì bom nổ sát bên hầm. Có khi vừa phỏng vấn xong một chiến sĩ thì ít giờ sau người ấy đã hy sinh. Những mất mát ấy khiến mỗi bài báo không chỉ là thông tin mà còn là một phần máu thịt của đồng đội.

Có những lúc cán bộ, chỉ huy hy sinh hoặc bị thương, cán bộ tuyên huấn và phóng viên lại trực tiếp tham gia chỉ huy bộ đội chiến đấu. Trong chiến tranh, dường như không có ranh giới giữa người viết báo và người cầm súng. Nhưng cũng chính điều đó tạo nên bản lĩnh đặc biệt của lớp nhà báo chiến trường.

Kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời làm báo của tôi là những ngày tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tháng 4-1975. Không khí tiến công như thác lũ. Các cánh quân thần tốc tiến về Sài Gòn. Người làm báo chiến trường lúc ấy phải chạy đua từng giờ, từng phút. Vừa theo đơn vị chiến đấu, vừa ghi nhanh diễn biến, vừa tìm cách chuyển tin, bài ra phía sau.

Tôi còn nhớ cảm giác đứng giữa Sài Gòn trong ngày giải phóng. Thành phố vừa bước ra khỏi chiến tranh. Cờ giải phóng tung bay khắp nơi. Người dân ùa ra đường đón bộ đội trong nước mắt và nụ cười. Là người lính trực tiếp đi qua cuộc chiến, lại được làm báo giữa thời khắc lịch sử ấy, tôi cảm nhận rất rõ giá trị của hòa bình và sức mạnh của lòng dân.

Sau đó, tôi tiếp tục tham gia chiến trường Campuchia trong chiến dịch giải phóng Phnom Penh đầu năm 1979. Một lần nữa, người phóng viên chiến tranh lại theo bước hành quân của bộ đội. Đó là những ngày gian khổ nhưng cũng đầy tự hào, khi Quân tình nguyện Việt Nam giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.

Sau này, tôi chuyển công tác về Báo Quân khu 7, Báo Quân đội nhân dân, rồi Báo Sài Gòn Giải Phóng. Mỗi môi trường báo chí cho tôi thêm những trải nghiệm mới. Nhưng có lẽ hành trang quý nhất vẫn là những năm tháng làm báo chiến trường.

Khi làm Phó cục trưởng Cục Báo chí và tham gia giảng dạy nghiệp vụ báo chí, tôi càng thấy những kinh nghiệm từ chiến trường có giá trị đặc biệt. Làm báo trước hết phải dấn thân. Muốn có tác phẩm chân thực phải sống trong thực tiễn đời sống. Người viết không thể chỉ ngồi phòng lạnh để hình dung về cuộc sống.

Nghề báo hôm nay đã đổi khác rất nhiều. Công nghệ hiện đại giúp thông tin lan truyền nhanh chóng. Nhưng tôi vẫn nghĩ, điều cốt lõi nhất của người làm báo cách mạng không thay đổi: Đó là trách nhiệm xã hội, lòng trung thực và tình yêu con người. Và nghề báo cho tôi cơ hội được lưu giữ ký ức của một thế hệ đã sống, chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc...

Đại tá, nhà văn TRẦN THẾ TUYỂN