Mùa khô năm 1986, vừa được Quân khu 4 điều động từ Sư đoàn 442 về Ban Chính sách, Phòng Chính trị, Bộ CHQS tỉnh Thanh Hóa công tác, tôi được thủ trưởng Bộ CHQS tỉnh là Thiếu tướng Lê Công Phê giao nhiệm vụ làm Phó đội trưởng kiêm Bí thư Chi bộ Đội Quy tập đi tìm hài cốt liệt sĩ (HCLS) Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh ở tỉnh Houaphan.
Hồi đó, do điều kiện đất nước còn khó khăn nên công tác chuẩn bị vật chất để mang sang nước bạn cũng vô cùng vất vả. Muốn mua vải xô trắng, vải màn phải qua Giám đốc Sở Thương nghiệp duyệt mới được mua. Cồn 90 độ cũng phải nhờ các mối quan hệ mới mua được, vì mua nhiều không ai bán. Còn xà phòng thì 10 người được mua 1 bánh vừa tắm, vừa giặt. Về chế độ bảo đảm cho cán bộ và chiến sĩ đi quy tập không khác gì trong nước. Nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập HCLS luôn được anh em trong đội xác định rõ là nhiệm vụ đặc biệt, thiêng liêng. Tất cả gạo, súng đạn và hơn 100 con người được bố trí trên 1 chiếc xe Gaz và 1 chiếc xe Zil cũ. Chúng tôi phải mất 3 ngày đi từ Bộ CHQS tỉnh mới đến thị xã Xam Neua, thuộc tỉnh Houaphan. Nghỉ được hai ngày, toàn đội lên đường làm nhiệm vụ.
Từ thị xã Xam Neua lên điểm cao Pa Thí-nơi có mộ liệt sĩ Việt Nam dài 70km nhưng xe chỉ chạy được một chiều trên con đường độc đạo ngoằn ngoèo, chênh vênh theo triền núi, với 5 con dốc cao dựng đứng. Trời lại mưa, chiếc xe Zil do lái xe Phạm Đình Sao lái như con trâu già phì phò, nặng nhọc bò chậm chạp chở theo lương thực, thực phẩm, súng đạn, bộ đội. Còn chiếc xe Gaz do đồng chí Lê Hữu Khiêm lái, tay lái một đường, xe đi một nẻo, đuôi xe cứ “đánh panê” tưởng chừng muốn hất anh em ngồi trên xe xuống vực sâu. Đồng chí Lâm ngồi cạnh tôi nói trong hơi thở gấp: “Số mệnh anh em mình nằm trong tay của lái xe, chỉ cần lái chệch hướng một chút là nguy to đấy!”.
    |
 |
Đón các liệt sĩ tại Lào về nước năm 1996. Ảnh do tác giả cung cấp
|
Mãi tới 21 giờ hôm ấy xe mới đến địa điểm trú quân. Sáng hôm sau, chúng tôi hành quân bộ 15km đến địa điểm dân bản chỉ có mộ liệt sĩ Việt Nam ở triền núi dốc cao. Trong lúc anh em đang hì hục đào tìm thì nghe tiếng “đề pa” của pháo và cối của bọn phỉ. Một số chiến sĩ lần đầu tiên nghe tiếng nổ của pháo, do mất bình tĩnh vội chạy dạt xuống chân dốc, số ít nằm úp vào hố chôn đang đào. Tôi động viên anh em: “Kinh nghiệm chiến trường của tớ là còn nghe được tiếng “đề pa” của pháo thì vô tư đi. Không sợ dính mảnh đâu!”.
Đúng thật, bọn phỉ chỉ bắn vu vơ một lúc rồi im hẳn. Anh em trong đội lại tiếp tục đào tìm. Do triền núi dốc, HCLS được bọc bằng nhiều lớp nilon, tăng, võng, rễ cây không xuyên vào, nước cũng không thấm được vào nên khi đào lên, 7 bộ hài cốt vẫn nguyên vẹn. Anh em gói lại rồi buộc chặt, đưa lên võng cáng như cáng thương binh về vị trí tập kết. Theo phong tục của người Lào không được đưa “con ma” vào bản nên tối hôm đó, số HCLS vừa tìm kiếm, cất bốc được anh em đưa ra rừng làm chòi cao để quàn, phân công nhau canh gác thú rừng và hương khói cho các liệt sĩ.
Những ngày tiếp sau đó, Đội đã hành quân đến các địa điểm quanh căn cứ Pa Thí tìm kiếm thêm các ngôi mộ liệt sĩ nằm rải rác ở căn cứ.
Quá trình tìm kiếm, nhiều đồng chí trong Đội bị sốt rét ác tính, nhiều đêm phải ngủ ngoài rừng, trải lá cây làm chiếu. Khi vượt sông Nậm Ét, nước chảy xiết, bộ đội vừa bơi vừa đẩy mảng ghép bằng tre nứa bên trên để HCLS...
Ngày 14-4-1986, sau khi hoàn thành công việc, đơn vị hành quân bộ đi địa điểm khác. Riêng xe chở HCLS, ngoài lái xe Lê Văn Quân còn có 3 người gồm tôi, đồng chí Linh, đồng chí Mùi trực trên xe. Hôm ấy, trời mưa rất to. Đến bản Cò Hay, phải vượt qua một dốc cao, đường trơn, cua tay áo, chiếc xe bỗng mất lái, lao xuống vực sâu. Lúc đó, tôi chỉ kịp nghe tiếng đồng chí Quân hô: “Vĩnh biệt các anh!” rồi không biết gì nữa.
Tỉnh dậy, đầu và chân tay đau ê ẩm, biết mình đang nằm dưới đáy vực, tôi lồm cồm bò dậy đi tìm đồng đội. Đồng chí Linh, chiến sĩ thông tin nằm cách chỗ tôi không xa. Quần áo Linh rách tơi tả, tay vẫn ôm khẩu AK vào lòng, nhìn thấy tôi, Linh bật khóc: “Làm sao bây giờ hả anh?”. Tôi nắm chặt tay Linh: “Cứ bình tĩnh!” rồi hướng mắt tìm hai đồng đội còn lại. Quân nằm gần đó, bị gãy chân, đầu bê bết máu. Đồng chí Mùi thì bị cây đánh vào đầu tóe máu. Tôi nói với Linh: “Đồng chí bắn 3 phát súng, báo hiệu cho đơn vị là xe của ta bị nạn để kịp lên cứu anh em mình!”. Do mất bình tĩnh, Linh bóp cò cả băng AK. Bắn thế này đơn vị tưởng ta bị phục kích, sẽ không thể xuống ứng cứu kịp thời.
Quả đúng như vậy! Đêm ấy, dưới vực sâu, 4 anh em nằm co ro bên cạnh các HCLS, nhai gạo sống, thức qua đêm chờ trời sáng. Sáng hôm sau mới thấy toàn đội súng lăm lăm trong tay sẵn sàng đánh địch. Khi mọi người nhìn thấy xe nằm bẹp dúm dưới vực sâu mới biết chúng tôi bị nạn. Ngay sau đó, các bộ HCLS được chuyển lên xe đi sau, còn 4 chúng tôi được đơn vị đưa lên khỏi vực, các đồng chí bị thương được đồng đội cáng về thị xã Xam Neua cứu chữa.
Chuyến đi tìm hài cốt đầu tiên trên đất bạn Lào đã để lại trong tôi những ký ức không quên. Ở đó, trong những cánh rừng bạt ngàn bốn mùa mây che phủ, nơi các hang động lạnh lẽo, u tịch khi chúng tôi vào vẫn còn nguyên vẹn những chiếc sạp làm bằng tre nứa cho bộ đội nằm, những thùng phuy đựng nước cho thương binh tắm, những bếp dã chiến xếp bằng 3 hòn đá thay cho kiềng, những ống lon, ống bò, những đôi dép cao su đã mòn vẹt theo năm tháng hành quân đánh giặc. Chúng tôi đã bắt gặp dòng chữ nguệch ngoạc đục vào vách đá: “Vĩnh biệt Pa Thí” của đồng chí nào biết mình bị thương không qua khỏi khi nằm điều trị trong hang đã viết, với bao cảm xúc bồi hồi, xúc động và tiếc thương. Các anh đã vĩnh biệt Pa Thí, còn chúng tôi-cán bộ và chiến sĩ Đội Quy tập còn nhiều lần trở lại để tìm đưa các anh trở về!
PHẠM QUANG THƯ