Ở tuổi 94, cựu chiến binh Nguyễn Huy Hảo vẫn giữ được sức khỏe tốt cùng trí nhớ mẫn tiệp. Dường như dấu ấn thuở thiếu thời khi mới đi theo cách mạng vẫn chưa hề phai mờ trong tâm trí ông.
Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, hơn 10 tuổi, Nguyễn Huy Hảo đã tích cực hoạt động cách mạng. Vốn thông minh, lanh lợi, chữ viết đẹp nên khi thì ông được giao sao chép điều lệ, khi thì xuống cơ sở, vào các gia đình để tuyên truyền đường lối, chủ trương của Mặt trận Việt Minh. Là con thứ 5 trong gia đình có 6 anh chị em nên khi các anh chị đều thoát ly đi theo cách mạng thì Nguyễn Huy Hảo cũng không muốn ở nhà nữa. Tháng 9-1952, tròn 20 tuổi, ông gia nhập Đại đội 216 Thanh niên xung phong Tuyên Quang.
Cựu chiến binh Nguyễn Huy Hảo kể rằng, ở tuổi 20, sức khỏe tráng kiện, ông không nề hà khó khăn nào. “Từ khoảng tháng 9-1953, đơn vị tôi nhận lệnh lên bảo vệ khu vực đèo Chẹn (Sơn La). Nơi đây được coi như “huyết mạch” lên Điện Biên Phủ nên thực dân Pháp thường xuyên đánh phá ác liệt. Có đoạn đường hôm trước vừa vá xong, hôm sau máy bay giặc đã giội bom xuống, để lại những hố sâu, ngổn ngang đất đá. Xuyên đêm sửa đường, phá bom với bao hy sinh, vất vả, nhưng chúng tôi hiểu ý nghĩa to lớn của công việc mình làm nên ai cũng tận tâm, chu toàn, không tiếc công sức”, cựu chiến binh Nguyễn Huy Hảo cho biết.
    |
 |
Cựu chiến binh Nguyễn Huy Hảo. Ảnh: THỦY TIÊN
|
Cuối tháng 5-1954, Nguyễn Huy Hảo nhập ngũ vào Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 77. Sau đó, biết ông có vốn tiếng Pháp nên cấp trên chuyển ông về Đại đội 24, Tiểu đoàn 322, Liên khu Việt Bắc làm công tác giao nhận tù, hàng binh. Cựu chiến binh Nguyễn Huy Hảo nhớ lại: “Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, đơn vị chúng tôi nhận lệnh hành quân về Na Hang (Tuyên Quang) làm nhiệm vụ tiếp nhận và trao trả tù, hàng binh. Địa điểm nuôi giữ tù binh là những lán trại dựng trong rừng. Chúng tôi gồm 7-8 người được phân công vào tổ tuyên truyền. Ngoài ra còn có các tổ quân y, hậu cần, an ninh...
9 năm kháng chiến, thực dân Pháp đã gây ra biết bao đau thương, tổn thất cho đồng bào và chiến sĩ ta. Vì nợ nước, thù nhà mà chúng tôi tình nguyện đi bộ đội, quyết tâm trả thù cho quê hương. Giờ đây, trước mặt chúng tôi không còn là những tên địch hung hăng, tàn bạo nữa, mà là những kẻ bại trận với dáng đi khúm núm, ánh mắt sợ sệt... Không phải không có chút hả hê trước thắng lợi, nhưng chúng tôi đều được quán triệt rõ chính sách của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với tù, hàng binh nên tất cả đều nghiêm túc thực thi nhiệm vụ.
Hằng ngày, chúng tôi tổ chức các buổi nói chuyện, thông tin cho họ về chính sách khoan hồng và nhân đạo của ta, về tình hình thời sự quốc tế, phát báo tiếng Pháp cho họ đọc. Tất nhiên có cả những giờ lên lớp tuyên truyền chính trị, ca ngợi tự do, hòa bình, đưa ra nhiều bằng chứng cụ thể chứng minh hành động của họ là phi nghĩa, vô nhân đạo, kêu gọi họ sau này không tham gia xâm lược, trở về dựng xây quê hương, gia đình. Tôi nhớ, những bài nói chuyện của ông Trần Hoàn, Chính trị viên Đại đội khi ấy đã khiến nhiều tù binh rơm rớm nước mắt. Có lẽ chúng tôi đã gợi được không ít cảm xúc sâu kín nhất cũng như ánh sáng lương tri và khát vọng được sống hòa bình, hạnh phúc, ấm no với họ. Sau này, khi được trao trả, nhiều người đã xin ảnh Bác Hồ và chữ ký của cán bộ ta làm kỷ niệm”.
Trung tuần tháng 8-1954, đơn vị của ông Nguyễn Huy Hảo nhận lệnh áp giải tù binh từ Na Hang về giao nhận tại Việt Trì (Phú Thọ). Khoảng 5.000 tù, hàng binh đã được bộ đội ta bảo đảm an toàn, được chăm sóc sức khỏe khi bị thương trước khi bàn giao cho Chính phủ Pháp.
Hoàn thành nhiệm vụ, ông Hảo quay lại nhận nhiệm vụ huấn luyện quân sự tại Tiểu đoàn 322. Những năm sau này, ông có nhiều thời gian gắn bó với các hoạt động huấn luyện, xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ, bộ đội địa phương. Trải qua nhiều vị trí công tác, năm 1986, ông về nghỉ theo chế độ với quân hàm Trung tá khi đang là Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Văn Chấn, Bộ CHQS tỉnh Yên Bái.
KHÁNH AN