Đồi Tức Dụp, nằm dưới chân núi Cô Tô hùng vĩ, từng được đế quốc Mỹ đặt mệnh danh là ngọn đồi “hai triệu đô” bởi số kinh phí khổng lồ từ bom đạn mà quân đội Mỹ đã trút xuống đây, nhưng vẫn không thể khuất phục được ý chí của những chiến sĩ cách mạng. “Suốt 4 tháng trời, anh em không biết mùi vị hạt cơm là gì. Cái dạ dày nó thắt lại, cảm giác như nó đang tự ăn chính mình”, ông Cư nhớ lại.

Để tồn tại, các chiến sĩ phải tìm đến những thứ mà bình thường chẳng ai dám chạm môi là củ nần, một loại củ rừng nổi tiếng là có độc tố mạnh, nếu ăn không khéo sẽ bị sưng vòm họng, gây co thắt và có thể tử vong. Nhưng trong cái khó ló cái khôn, ông và đồng đội đã tìm ra quy trình “khử độc” củ nần ngay trong hang đá: Củ nần đào về đem xắt lát mỏng như tờ giấy, mang ngâm trong nước nhiều ngày. Khi vị đắng không còn, chỉ còn lại chất bột nhạt, lúc đó mới dám mang đi nấu. Khi củ nần khan hiếm, anh em lại chuyển sang đào rễ tranh. Vị đắng chát của rễ cây khiến lưỡi tê dại nhưng lại có tác dụng kỳ lạ là làm người ta quên đi cơn đói đang cào xé.

Nhưng có lẽ, “phát minh” vĩ đại nhất của lính Tức Dụp chính là muối. Thiếu muối lâu ngày, cơ thể các chiến sĩ bắt đầu phù nề, bủn rủn chân tay, không thể cầm súng. Giữa cái khó ló cái mưu, ông Cư và đồng đội tìm thấy cây rau dền gai, một loại cây dại có gai sắc nhọn mọc trên đá. Các ông chặt rễ cây rau dền, đem phơi khô trên những phiến đá nóng cháy rồi đốt lên thành tro. Cái tro đó được khuấy vào nước, lắng lọc lấy phần nước trong. Nước có vị mặn gắt xen lẫn mùi khói và vị chát. Nhờ có cái nước muối tro đó mà các ông giữ được điện giải, đôi chân mới đủ sức đứng vững trên triền đá.

Nỗi lo về cái đói chưa dứt thì cái khát lại ập đến, địch dùng mọi biện pháp để cô lập nguồn nước. Các ông phải dùng dao cắt ngang thân những dây leo để hứng lấy từng giọt nước rỉ ra nhạt nhẽo. Khi dây leo cũng không còn nước, ông và đồng đội phải liều mình bò ra các bãi đất phẳng lúc sương sớm, vục miệng uống thứ nước đọng trong những vũng chân trâu. “Nước đó lẫn bùn đất, lại khai nồng mùi chất thải của gia súc, nhưng trong cơn khát cháy họng, mình phải nghĩ đó là nước cam, nước mật, phải uống để mà sống, để mà giữ lấy đồi”, ông Cư nói bằng giọng trầm đục.

leftcenterrightdel
Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Lê Thành Cư (bên phải) trò chuyện với cán bộ thế hệ sau. Ảnh: TÀI PHAN 

Vạch những vết sẹo dài trên bắp tay, bắp chân, ông Hai Cư bảo đó là dấu tích của những mảnh pháo đã găm vào người hàng chục năm trước. Khi đó không có thuốc tê, không kháng sinh, quân y phải dùng những phương pháp dân gian để bó vào vết thương. Trong điều kiện bị bao vây nghiêm ngặt, khi có người hy sinh mà không thể mang thi hài xuống núi, hang đá trở thành nơi yên nghỉ cuối cùng của người lính. Do không có đất để đào huyệt, các ông phải tìm những kẽ đá sâu nhất, đặt thi hài đồng đội vào đó rồi lấy đá lấp lại. Những mùa mưa lớn, nước rừng chảy xiết, hay khi thú rừng đánh hơi được sẽ có những nấm mồ bị bới lên, anh em nhìn thấy mà nước mắt chảy ngược vào trong, uất hận không nói nên lời.

Hồi đó quân địch đóng bốt dày đặc dưới chân núi, canh gác ngày đêm. Để tiếp tế cho quân mình, bà con giấu kỹ gạo và thực phẩm trong các bụi lùm, gốc cây quanh chùa Bảy Núi, chùa Sôm Sây hoặc chùa B-52. “Bà con mình hay lắm, giấu gạo khéo tới mức giặc đi qua cũng chẳng thấy. Anh em mình lẻn xuống, cứ theo ký hiệu mà lấy rồi vác ngược lên đồi. Những hạt gạo “cửa chùa” ấy thấm đẫm mồ hôi và cả máu của những người mẹ, người chị băng rừng trong đêm tối để tiếp tế cho chúng tôi”, ông Hai Cư kể.

Đồi Tức Dụp hôm nay đã xanh mướt bóng cây, trở thành điểm đến du lịch nổi tiếng, nhưng dưới những kẽ đá sâu thẳm kia, âm hưởng của 128 ngày đêm năm ấy vẫn còn đó. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu, nước mắt và cả sự sáng tạo phi thường của những người như ông Hai Cư.

HỮU TÀI