Tháng 9-1972, vừa học xong năm thứ nhất, Nguyễn Khánh Thụy cùng gần 10 bạn trai trong lớp viết đơn tình nguyện nhập ngũ, xếp bút nghiên lên đường ra trận. Trước ngày lên đường, nửa đêm về sáng, bạn bè phát hiện anh rón rén ra đường chạy một mình. Có cô bạn gái trong lớp đoán già đoán non rằng Nguyễn Khánh Thụy chạy vì mất ngủ, vì sợ chết. Tin tức không vui từ Thành cổ Quảng Trị làm nản lòng bao người. Thụy chạy cho tan nỗi sợ hãi? Chạy để giải tỏa nỗi lo âu trước cuộc chiến khốc liệt đang đến với mình chăng?...

Không kiềm chế được tò mò, bạn bè đem thắc mắc hỏi Nguyễn Khánh Thụy, anh vui vẻ trả lời: “Tớ giấu bác sĩ nên vẫn trúng tuyển, sức khỏe loại B1, đủ điều kiện nhập ngũ. Tớ chạy luyện tập để có thể hành quân ra trận đấy. Các cậu gọi đùa tớ là Hephaistos (thần thợ rèn) với dáng đi như ngọn lửa bập bùng đều có lý do cả, vì tớ có tật bẩm sinh mà”. Nói rồi, anh kéo ống quần lên cho mọi người xem. Hóa ra cả hai bàn chân anh đều thiếu gót. Bạn bè ai nấy đều cảm thấy se lòng khi nhìn đôi chân anh đủ mười ngón nhưng lòng bàn chân vụt cong lên, không có tí gót nào.

Trong mấy tháng huấn luyện bộ binh, Nguyễn Khánh Thụy không để tiểu đội mình mất điểm thi đua trong tất cả bài tập kỹ, chiến thuật, kể cả hành quân vác nặng. Anh cũng từ chối việc viết đơn đề nghị để mình chuyển sang đơn vị hành quân cơ giới. Cho đến ngày kết thúc huấn luyện, chuẩn bị lên đường, các sĩ quan chỉ huy vẫn không biết đại đội mình có người thiếu... hai gót chân.

3 tháng sau, Nguyễn Khánh Thụy đã cùng đồng đội vượt Trường Sơn vào tăng cường cho chiến trường Đông Nam Bộ. Chỉ trên đường hành quân, nhìn Nguyễn Khánh Thụy, mọi người mới thấy bàn chân là thứ quý giá thế nào trên cơ thể con người. Vào mùa mưa, trên những lối mòn Trường Sơn, đất trở nên nhão nhoét, trơn trượt. Khánh Thụy không đi giày, bởi khi lội qua các bãi sình lầy là hai chiếc giày sẽ nằm lại trong bùn, không bõ công mò xỏ lại. Còn đi dép lội rừng với anh lại là một cực hình. Vì đôi chân không có gót nên quai hậu của chiếc dép cao su trở nên thừa thãi, chỉ bước đi một vài chục mét, mặc dù đã chống gậy, chúi người cho đổ trọng tâm về phía trước, dép của anh vẫn bị tuột. Nó không tuột về phía trước mà tuột về sau. Có lúc dép trượt lên ôm lấy bắp chân lúc nào không biết.

leftcenterrightdel
  Liệt sĩ Nguyễn Khánh Thụy. Ảnh tư liệu

Đơn vị nhường cho anh các kiểu giày, kiểu tất kiếm được. Có tuần hành quân, anh chỉ đi bằng tất. Những đôi tất có sợi tơ vàng quanh đáy do Trung Quốc sản xuất vốn dĩ rất bền, nhưng chỉ cần anh xỏ vào lội bùn, trèo đèo hai ngày là nát. Dọc đường, Nguyễn Khánh Thụy còn bị những cơn sốt rét hành hạ. Biết rằng nếu dừng lại ở binh trạm nào đó có thể sẽ chết hoặc lạc đơn vị, không thể chạy đuổi theo hay tìm được đại đội của mình, anh quyết định buộc một sợi dây vào bụng rồi nhờ đồng đội kéo đi. Có lần cơn sốt ập đến, mắt anh nhắm nghiền không rõ đang thức hay mê ngủ, mồ hôi vã ra, đôi chân líu ríu bước theo sợi dây lúc căng, lúc chùng cứ thế kéo về phía trước.  

Đồng đội khổ một, anh khổ mười, nhưng trên môi anh nụ cười vẫn luôn tươi rói chưa bao giờ tắt. Anh nổi tiếng suốt dọc đường hành quân không phải vì dị tật mà bởi khả năng thi ca. Ai trông thấy anh, chỉ cần giục: “Thụy đọc thơ đi” là anh lập tức đọc tặng một bài. Đồng đội nào muốn làm quen với anh, chỉ cần bày tỏ nguyện vọng thích nghe thơ là anh lập tức bắt chuyện, hỏi thăm quê quán, gia đình.

Thơ anh đọc suốt chặng đường hành quân tháng 11-1972 phần lớn là thơ chiến trận. Những bài thơ như “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”; “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”; “Gửi em, cô thanh niên xung phong”... của Phạm Tiến Duật, hay “Núi Đôi” của Vũ Cao, anh đọc hàng chục lần mà mọi người vẫn nghe không chán, thậm chí nhiều người đã thuộc lòng. Cũng bởi đồng đội muốn khai thác triệt để vốn liếng của anh-một sinh viên Khoa Ngữ văn.

Sang đầu tháng 2-1973, khi đã đi hết Đường Hồ Chí Minh, nhiều người trong đại đội không thích nghe thơ chiến trận nữa, lại bắt anh đọc thơ tình Xuân Diệu, Nguyễn Bính, hoặc kể lại “Truyện Kiều”. Khi thấy vốn thơ đã cạn, anh chuyển sang đọc thơ của chính mình. Đó là những bài thơ phơi phới tinh thần lạc quan, tin tưởng vào chiến thắng tất yếu của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Thơ anh ca ngợi vẻ đẹp bí ẩn của đại ngàn Trường Sơn, vẻ đẹp của chòm sao Bắc Đẩu gợi nhớ sắc nắng Ba Đình. Anh tự đặt ra định mức sáng tác cho mình: Mỗi ngày ít nhất một bài thơ. Vậy là dọc các chặng đường hành quân, từ Nam Đàn-Tuyên Hóa-Bố Trạch, rồi vượt Trung Lào, Hạ Lào, xuyên sang Đông Bắc Campuchia để đến với miền đất Đông Nam Bộ, Nguyễn Khánh Thụy đã trở thành nhà thơ của Trung đoàn lúc nào không hay...

Trung đoàn 271, Sư đoàn 5 (nay thuộc Quân khu 7) của Nguyễn Khánh Thụy bắt đầu tác chiến lần lượt qua các địa bàn Tây Ninh, Long An, Quảng Đức. Anh chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công, nhưng không được đề bạt hoặc giao nhiệm vụ chỉ huy. Lý do rất đơn giản, không có gót chân, anh không thể đi đầu trong đội hình xuất kích, xung phong. Bởi chậm chân nên thường bị tụt lại phía sau, anh nhận vị trí tay súng bắn yểm trợ, chạy phía sau đồng đội.

Trong các chiến dịch, anh được ưu tiên đánh phòng thủ hoặc giữ chốt. Điều quý nhất là những ngày trên chốt, anh thường lân la đến từng tiểu đội để nói chuyện, đọc thơ. Thời gian Trung đoàn đóng quân dưới chân dãy núi ở Attapeu (Lào), có nhiều người nhầm tưởng Khánh Thụy là chính trị viên đang “đi sâu, đi sát” đến từng tiểu đội để làm công tác tư tưởng, động viên chiến sĩ.

Thực ra thơ Nguyễn Khánh Thụy không hay, vì đó là những bài thơ thời sự. Anh viết đều đặn mỗi ngày, để kịp thời, đôi khi hài hước để đồng đội vui. Những chàng lính trẻ từ Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học Bách khoa Hà Nội của Trung đoàn hầu như đều nhớ hai câu thơ Khánh Thụy viết tưởng tượng về buổi chia tay người yêu ra trận: “Anh dắt em đi trời sắp sáng rồi/ Mà trong tim anh, gà chưa muốn gáy”. Cuốn sổ tay chép những bài thơ anh sáng tác mỗi tháng lại chi chít ký hiệu, chữ to, chữ nhỏ. Đó là những ý kiến của đồng đội góp ý cho từng hình ảnh, tứ thơ. Có lần Khánh Thụy chia sẻ thật rằng thơ của mình chỉ là “thơ mộc”, là bản thảo lần đầu. Sau khi giải phóng miền Nam, đất nước hòa bình, thống nhất và trở về Hà Nội, anh sẽ sửa kỹ, hoàn chỉnh để xuất bản tập thơ đầu tay.

Nhưng mơ ước ấy đã không thành hiện thực.

Tháng 4-1975, sau khi giải phóng thị xã Phước Long, Trung đoàn 271 tiến vào bao vây cô lập địch tại Mỹ Tho, Long An, chuẩn bị cho Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn. Trong đội hình hành quân, Nguyễn Khánh Thụy vui chân đi nhanh như chỉ đi bằng ngón. Nhưng trên đường tiếp cận mục tiêu, hố cá nhân của anh trúng một quả pháo kích. Đồng đội bên cạnh chỉ nghe thấy tiếng anh gọi mẹ, cùng lúc với chiếc ba lô bị hất tung lên cao. Với một vết thương rất sâu ở bụng, anh được chuyển về trạm phẫu Trung đoàn cùng chiếc ba lô. Nằm trên cáng, anh vẫn vươn tay ra hiệu cho chiến sĩ công binh đang khiêng đầu cáng tìm hộ mình cuốn sổ tay thơ.

Hai ngày sau, ngày 16-4-1975, từ trạm phẫu Trung đoàn 271 có điện báo về, nhà thơ của Trung đoàn đã vĩnh viễn ra đi.

Mấy chục năm qua, đồng đội ở Trung đoàn 271 vẫn thay nhau đến ngõ 43 phố Nguyễn Hữu Huân, Hà Nội tìm nhà Nguyễn Khánh Thụy để thắp hương tưởng nhớ. Hỏi chuyện những người cùng trang lứa ở khu phố, rất nhiều người còn nhớ hình ảnh anh phụ trách Đội Nguyễn Khánh Thụy với dáng đi tập tễnh, những đêm trăng sáng vẫn thường dạy các em thiếu nhi học hát, tập làm thơ. Mọi người đều chung một ý nghĩ: Nếu anh còn sống trở về, bệnh viện quân y sẽ dễ dàng phẫu thuật lắp cho anh đôi gót chân nhân tạo. Nếu tìm được tập thơ anh viết, đồng đội sẽ thay anh hoàn thiện, xuất bản làm kỷ niệm. Nhưng rồi nhìn lâu lâu khuôn mặt anh trong di ảnh, anh như đang nói với mọi người: Giả thuyết ấy là thừa, vì cuộc đời anh tự nó đã là một bài thơ lớn, sống mãi với tuổi hai mươi! 

PGS, TS PHẠM THÀNH HƯNG