Sau mấy lần hẹn, chúng tôi mới gặp được Đại tá, nhà văn Vũ Thị Hồng trong một buổi chiều tháng 5-2026. Căn hộ chung cư bên sông Hồng với tầm nhìn thoáng rộng quả là lý tưởng để bà tiếp tục cho ra đời những tác phẩm mang đậm dấu ấn của một nữ nhà văn-nhà báo có những tháng năm rực lửa ở chiến trường.
Khi biết tôi cũng từng tốt nghiệp cùng chuyên ngành, sau bà đúng 35 năm, nhà văn Vũ Thị Hồng liền hỏi tôi muốn nghe chuyện của bà bắt đầu từ đâu? Tôi hỏi ngay, vì sao một người con gái nhỏ nhắn với sức vóc yếu ớt đang học năm thứ ba Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội lại sẵn sàng cắt mái tóc của mình, tình nguyện đăng ký vào tuyến lửa? Sức mạnh nào đã khiến một nữ phóng viên chiến trường sẵn sàng xông pha, đến những nơi nguy hiểm nhất, cùng ăn, cùng ở, cùng chiến đấu với bộ đội?
    |
 |
| Nhà văn Vũ Thị Hồng (ngoài cùng, bên trái) cùng đồng đội ở chiến trường. |
Dù thời gian đã lùi xa hơn 50 năm, dù ký ức có thể chìm đi giữa trăm vạn điều thường nhật thì chỉ cần chạm tới, nó bỗng tuôn chảy. Rồi bà nói mà như tự sự với chính mình...
Có lẽ trong 4 nữ sinh Văn khoa khóa 11, 12 quyết tâm vào chiến trường năm ấy thì ngoài ý chí, trách nhiệm của những thanh niên yêu nước, bản thân Vũ Thị Hồng còn một lý do đặc biệt khác, liên quan đến dấu ấn đau thương nhất cuộc đời bà. Đó chính là sự ra đi bất ngờ của người cha khi đang họp cùng đồng nghiệp thì bị máy bay Mỹ ném bom tại số 140 Phố Huế (Hà Nội) năm 1967. Vì sự mất mát vô bờ ấy mà 6 anh chị em trong nhà phải chịu cảnh côi cút, ly tán khắp nơi, mãi khi đất nước hòa bình mới lại về chung tổ ấm.
Trước khi đi B, bà bị phát hiện mắt viêm màng bồ đào, thị lực giảm còn 2/10, phải ở lại bệnh viện điều trị. Nhưng bà đã trốn viện lên đường. Ngày 16-4-1970, Vũ Thị Hồng với bí danh Nguyễn Thị Bắc Hà và đồng đội bắt đầu hành quân. Từ Hà Nội, họ được đi xe đến Nghệ An, còn lại hành quân bộ để vào chiến trường. Thử thách đầu tiên chính là cơn sốt rét ác tính bất ngờ ập đến khiến bà không thể theo kịp đoàn mà phải nằm lại trạm giao liên điều trị. Sau này, trước sức tàn phá của chốn rừng thiêng nước độc, bom đạn chiến tranh, người con gái trẻ đang độ rực rỡ nhất của tuổi xuân thì còn chịu nhiều mất mát, thương tổn khiến tóc rụng gần hết, thân hình gầy yếu với rất nhiều vết thương trên cơ thể. Bà là thương binh hạng 4/4 và đến giờ di chứng vết thương chiến tranh vẫn hành hạ mỗi khi trái gió trở trời. Nhưng dù vậy, chưa bao giờ những khó khăn, nguy hiểm ấy cản được bước chân và ý chí lăn xả nơi chiến trận của bà.
Vào chiến trường, phóng viên Bắc Hà được phân công về Ban Văn học rồi Tạp chí Văn nghệ Quân Giải phóng Trung Trung Bộ. Dù trước đó đã được đào tạo 3 tháng về nghiệp vụ viết văn, làm báo, nhưng việc đầu tiên bà được giao đảm nhiệm lại là đi... làm rẫy. Người con gái Hà Nội chưa từng phải đụng đến việc chân tay đã không nề hà trước bất cứ công việc gì suốt hai tháng.
    |
 |
| Nhà văn Vũ Thị Hồng (ngoài cùng, bên phải) thăm lại chiến trường xưa. Ảnh do nhân vật cung cấp |
Sau những tháng ngày lao động và chỉ loanh quanh ở cơ quan, bà đã quyết định xin đi thực tế tại các đơn vị chiến đấu. Nói về quyết định này, bà vẫn nhớ mãi lời chỉ dạy ân cần của Tư lệnh Quân khu 5 Chu Huy Mân khi ấy: Muốn viết trước tiên hãy là một người lính, sống như một người lính đã!
Lời khuyên ấy theo bà suốt các chặng đường chiến dịch và bám sát bộ đội sau này. Không thể kể hết những khó khăn của một cô gái mới ngoài 20 tuổi khi phải sinh hoạt giữa những người lính khác giới cùng độ tuổi. Trước hết là sự lo ngại khi người ta chưa tin một cô gái Hà Nội chân yếu tay mềm vào đây để làm gì, sẽ viết gì về họ hay giúp được gì cho cuộc chiến này? Phóng viên Nguyễn Thị Bắc Hà khi ấy đã sống bằng tất cả sự chân tình và nhiệt thành của tuổi trẻ. Gắn bó với bộ đội từ những sinh hoạt hằng ngày, cùng ăn, cùng ở, cùng đào hầm, cùng đi gùi gạo hàng chục ki-lô-mét, cùng hành quân, cùng đi an táng tử sĩ, dũng cảm chiến đấu khi gặp địch...
Bà không nhớ đã bao lần vượt qua lằn ranh sinh tử trong những lần “giáp lá cà” với địch, khi bị bom vùi, hay vượt chốt ngay trước mũi súng của kẻ thù. Giữa làn đạn pháo cối, nữ nhà báo hông đeo súng lục, vai khoác súng AK vẫn hiên ngang không chịu lùi bước. Rồi lần bị thương khi đang đi vào vùng dân cư nắm tình hình thì bị địch ném bom. Mảnh bom sượt qua cánh tay, may mắn không gãy xương nhưng vết thương khá sâu. Được đồng đội đưa vào trạm phẫu, bà nhường cho các anh em bị thương nặng phẫu thuật trước. Chiều hôm sau mới đến lượt. Vết thương đã khiến bà phải “khâu sống” 12 mũi vì hết thuốc tê.
“Phần lớn thời gian chúng tôi hành quân liên miên và chiến đấu với kẻ thù. Có những đợt 10 đêm hành quân liên tục, còn ban ngày có khi tôi ngủ gật bên vũng nước. Có khi ngồi viết trong tiếng bom cày đạn réo, thấy địch bắn ở ngay xóm bên kia. Chủ yếu là viết phóng sự, đưa tin số liệu chiến trường và tường thuật trận đánh. Khi có những khoảng lặng dài hơn, tôi dùng chất liệu đó viết truyện ký”, nhà văn Vũ Thị Hồng kể.
Cho đến giờ, nhà văn Vũ Thị Hồng vẫn nhớ kỷ niệm đau thương về người thầy, người anh, người đồng nghiệp gắn với bài báo đầu tiên của bà. Đó là phóng viên Báo Quân Giải phóng Khu 5 Nguyễn Văn Luyện. Người đã dạy bà từ cách bám nắm đơn vị đến cách lấy tư liệu về trận đánh. Bắc Hà lên tuyến trước, trực tiếp khai thác số liệu, anh Luyện ở tuyến sau qua điện thoại ghi chép lại số liệu cô vừa lấy. Hết chiến dịch thì bài báo đầu tiên-bài phóng sự chung của hai người cũng ra đời. Người anh, người thầy ấy vẫn đang hừng hực ý chí đi và viết cùng lời hẹn: “Sắp tới có nhiều trận đánh mới, anh em mình sẽ còn rất nhiều chất liệu để viết...” thì đột ngột hy sinh ngay trên đường hành quân vì một mảnh bom phạt ngang người. Sau này bà được đồng đội kể lại thì mới biết vì chính bà cũng bị vùi lấp bởi trận bom ấy, nhưng may mắn được đồng đội cứu lên kịp thời.
Những đau thương ấy càng rèn thêm ý chí, mài sắc bản lĩnh của nữ phóng viên trẻ. Suốt từ năm 1970 đến 1975, Bắc Hà đã xin đi khắp các chiến trường từ Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi đến Bình Định... hành quân và chiến đấu như những người lính thực thụ, không ngại xông pha trước bất cứ trận đánh nào. Hòa bình lập lại, bà về công tác tại Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, sau đó là Ban Phụ nữ Quân đội. Những năm tháng tác nghiệp tại chiến trường là chất liệu để sau này bà cho ra đời nhiều sáng tác gây ấn tượng với độc giả, như các tập truyện ngắn: “Xóm biển”, “Tiếng rừng”, “Có một thời yêu”; tiểu thuyết “Trở lại là em”... Năm 2024, ở tuổi 74, bà tiếp tục cho ra mắt truyện ký “Chạm vào ký ức” về một thời hoa lửa ở chiến trường. Ngoài một số giải thưởng của Bộ Công an, Bộ Nội vụ, nhà văn Vũ Thị Hồng còn 2 lần được tặng Giải thưởng Văn học, nghệ thuật, báo chí về đề tài LLVT và chiến tranh cách mạng (1990-1995 và 2020-2025)...
THU THỦY