Nhà thơ tài hoa
Nhà văn Nguyễn Bính Hồng Cầu (con gái nhà thơ Nguyễn Bính, phóng viên Báo Tổ quốc của Chiến khu 8 và Nguyễn Hồng Châu, tên thật là Nguyễn Lục Hà, phóng viên Báo Kháng địch của Chiến khu 9), nguyên Phó giám đốc Nhà xuất bản Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, cho biết: “Ba tôi tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh năm 1918 (có tài liệu ghi năm 1917), tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay là xã Minh Tân, tỉnh Ninh Bình). Ông mồ côi mẹ lúc mới 3 tháng tuổi, tự học ở nhà với cha và cậu. 13 tuổi, ông đã có thơ đăng báo; 20 tuổi trở thành một trong những nhà thơ lãng mạn nổi tiếng nhất thời bấy giờ với những bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc; 24 tuổi đã xuất bản các tập thơ như: “Lỡ bước sang ngang”, “Tâm hồn tôi”, “Hương cố nhân”, “Một nghìn cửa sổ”... Mang tâm hồn lãng tử nên tuổi trẻ của ông đã rong ruổi dọc dài đất nước cho đến khi giác ngộ cách mạng, tham gia phong trào kháng Nhật. Khi giặc Pháp quay lại đánh chiếm Nam Bộ, trong số các văn nghệ sĩ tiền chiến, ông là người có mặt đầu tiên trên chiến trường này”.
Theo nhà văn Nguyễn Bính Hồng Cầu thì sinh thời, nhà thơ Bảo Định Giang kể, một ngày khoảng cuối năm 1947, đầu năm 1948, ông được báo có người xưng là Nguyễn Bính muốn gặp. Các đồng chí trong Bộ tư lệnh Chiến khu 8 là Trần Văn Trà và Nguyễn Văn Vịnh đã dặn ông đối đãi đàng hoàng, chăm sóc chu đáo tác giả “Lỡ bước sang ngang” khi Nguyễn Bính được điều về làm phóng viên Báo Tổ quốc cùng Bảo Định Giang.
    |
 |
| Nhà thơ Nguyễn Bính và vợ, bà Hồng Châu thời trẻ. |
Thơ Nguyễn Bính có thể chia làm hai dòng lãng mạn và cách mạng. Dòng thơ cách mạng của ông khá mạnh mẽ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nổi bật là: “Ông lão mài gươm”, “Trường ca Đồng Tháp Mười”, “Đông Nam Bộ kháng chiến”, “Bài ca kèn gọi lính”... Đặc biệt, bài thơ “Cửu Long giang” đăng gần 2 trang trên Báo Tổ quốc năm 1950 được Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc thành ca khúc “Tiểu đoàn 307” và phổ biến rộng rãi, khích lệ tinh thần yêu nước, kháng chiến oanh liệt của quân dân ta. “Không chỉ làm thơ, ba tôi còn sáng tác nhiều thể loại, từng đoạt giải nhất Báo Thanh niên Đông Pháp với truyện ngắn “Không đất cắm dùi”, giải nhất Nam Xuyên với truyện thơ “Tỳ bà truyện”... Hơn 30 năm sáng tác, ba tôi để lại 14 tập thơ, 8 truyện thơ, 5 kịch bản sân khấu, 4 tập truyện ngắn và tiểu thuyết”, con gái nhà thơ Nguyễn Bính tự hào cho biết.
Chiến sĩ cách mạng kiên trung
Gần 10 năm trước, tôi đến thăm nhà báo Nguyễn Hồng Châu trong ngôi nhà nhỏ ở quận Gò Vấp (TP Hồ Chí Minh), cũng là nơi lưu giữ nhiều hình ảnh, kỷ vật về nhà thơ Nguyễn Bính. Lúc đó, bà Châu bước sang tuổi 96, gần 80 năm tuổi Đảng, vẫn còn minh mẫn và nhớ rõ những năm tháng gian khổ, vất vả đã qua.
Bà kể: “Tôi là con gái út trong gia đình có 5 anh chị em. Ba tôi tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, bị Pháp bắt và sát hại. Đó là năm 1930, tôi mới 9 tuổi, còn mẹ tôi bị giam giữ do tham gia hoạt động phong trào đấu tranh ở Trà Vinh. Lớn lên mang nặng nợ nước thù nhà, tôi vào bưng biền tham gia kháng chiến. Nhờ có trình độ, tôi được phân công làm thư ký cho Tỉnh ủy Trà Vinh. Tháng 9-1938, tôi được kết nạp Đảng và xây dựng phong trào cách mạng tại địa phương”.
    |
 |
| Bà Hồng Châu (hàng đầu, thứ ba, từ trái sang) tại buổi lễ đón nhận Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng, tháng 9-2017. Ảnh tư liệu gia đình |
Tháng 5-1941, bà Châu bị bắt tại nhà. Bọn giặc giam giữ và di chuyển bà qua các nhà lao ở Trà Vinh, Cần Thơ, Sài Gòn... Tuy bị tra tấn, bà vẫn giữ trọn khí tiết của một đảng viên, một chiến sĩ kiên trung. Cách mạng Tháng Tám thành công, bà được trả tự do và tiếp tục hoạt động với chức vụ Đoàn trưởng Phụ nữ tỉnh Trà Vinh kiêm Phó ban Trinh thám đỏ. Năm 1946, thực dân Pháp đánh chiếm toàn Nam Bộ, tỉnh Trà Vinh cũng bị chiếm đóng, bà Châu theo bà Ngô Thị Huệ (vợ đồng chí Nguyễn Văn Linh, sau này là Tổng Bí thư) xuống Bạc Liêu hoạt động phong trào tiếp tế cho mặt trận. Sau đó, bà Châu được điều về dạy môn Văn tại Trường Thiếu sinh quân Chiến khu 9, rồi chuyển sang làm biên tập viên kiêm phóng viên Báo Kháng địch. Trong thời gian này, bà gặp nhà thơ Nguyễn Bính và nên nghĩa vợ chồng.
Hạnh phúc ngắn ngủi
Hồng Châu gặp Nguyễn Bính lần đầu tiên khi nhà thơ ghé tránh mưa ở tiệm sách Ánh Sáng của anh Tô Hà tại vàm Chắc Băng thuộc huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang (nay là xã Vĩnh Phong, tỉnh An Giang). Bà Châu lui cui nấu cơm, làm cá phía sau nhà cho mọi người ăn, còn Nguyễn Bính lẽo đẽo theo đòi phụ giúp. Cơm nước xong, bà Châu đón xuồng quá giang về xã Trí Phải thì Nguyễn Bính cũng xin đi cùng một đoạn về Huyện Sử đều thuộc huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau (nay là xã Trí Phải, tỉnh Cà Mau).
Tưởng gặp nhau vậy là xong, nào ngờ sau đó bà Châu trở lại tiệm sách Ánh Sáng, tình cờ gặp đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Bà Châu kể: “Anh Ba Duẩn nói: “Các anh thường nhắc chị luôn, một đảng viên trong thời kỳ bí mật đến giờ còn mãi cảnh long đong. Tôi sẽ làm mối cho một nhà thơ vô sản”. Để tôi khỏi từ chối, anh Ba Duẩn nói thêm: “Chị biết giữa lúc này có chủ trương chỉnh Đảng, đưa cán bộ tăng cường cơ sở. Nguyễn Bính là người xứ lạ, lại không có họ hàng thân thuộc ở miền Nam, trừ khi anh ấy bắt rễ ở đây. Bọn ngụy quyền đang tìm cách lôi kéo, kêu gọi văn nghệ sĩ về thành. Trong danh sách đó, Nguyễn Bính là tên tuổi nổi cộm nhất. Có một số anh em văn nghệ sĩ không chịu nổi gian khổ đã rời đi. Lúc này, kháng chiến cần sự góp mặt của Nguyễn Bính. Chị suy nghĩ kỹ đi”. Tôi trả lời: “Anh Ba nói với mẹ em, nếu mẹ em đồng ý thì em chấp hành”.
Ngày 2-9-1951, bà Châu khai trương tiệm sách cũng là ngày Nguyễn Bính nhờ má Ba-một bà mẹ chiến sĩ-chính thức đem trầu cau đến xin cưới. Tháng 10-1951, lễ thành hôn của nhà thơ Nguyễn Bính và nhà báo Hồng Châu được tổ chức. Chuyện tình của họ được khắc họa qua câu đối: “Tình dân tộc keo sơn Nguyễn Bính/ Thù xâm lăng lửa đỏ Hồng Châu”.
Ngày 2-9-1952, bà Châu sinh một bé gái đặt tên là Nguyễn Bính Hồng Cầu. Hạnh phúc chỉ vài năm ngắn ngủi, Nguyễn Bính có tên trong danh sách đoàn quân tập kết ra Bắc năm 1954. Hồng Châu còn mẹ già, con nhỏ nên tổ chức phân công ở lại miền Nam. Trong tập hồi ký “Đi qua tâm bão” của mình, bà Châu viết: “Trên bến Chắc Băng từng đoàn người lũ lượt đưa nhau xuống tàu, kẻ ở người đi, nước mắt tiếng cười huyên náo cả một góc trời. Vợ chồng Nguyễn Bính cũng có mặt trong đoàn người đưa tiễn. Tiếng còi tàu bao lần giục giã. Hà (tên thật của bà Châu) mấy bận nhắc chồng lên tàu. Nguyễn Bính chần chừ như cố níu kéo cho dài thêm giây phút gần nhau. Tàu từ từ tách bến, Nguyễn Bính cố nhoài ra boong tàu, đưa cao hai ngón tay hẹn với Hà ngày anh trở lại. Hà vẫy tay lưu luyến tiễn chồng. Hồng Cầu cố nhoài người theo phía con tàu khóc quẫy đòi cha. Nó đâu biết rằng chiếc tàu ấy đã chở đi của nó một người cha. Và vĩnh viễn không bao giờ trả lại cho nó. Hà cố vỗ con mà nước mắt chảy tràn. Họ có ngờ đâu, hai năm cho một cuộc chia tay đó là mãi mãi... Mười hai năm sau (ngày 20-1-1966), Nguyễn Bính ra đi vào cõi vĩnh hằng, trong một cơn bạo bệnh, anh không giữ tròn lời hẹn ước cùng Hà-với người vợ miền Nam”.
Tháng 10-2017, bà Nguyễn Hồng Châu qua đời tại TP Hồ Chí Minh. Anh Nguyễn Tuấn Khanh, cháu ngoại ông Trần Văn Tư ở cạnh tiệm sách Ánh Sáng tại vàm Chắc Băng năm xưa, bồi hồi kể: “Tôi nghe ông ngoại kể về mối tình cảm động của nhà thơ Nguyễn Bính với nhà báo Nguyễn Hồng Châu thời kháng chiến. Hai người hẹn nhau hai năm sau vợ chồng sum họp, nhưng mãi mãi không bao giờ gặp lại. Bây giờ, ở nơi nào đó, có lẽ hai người đã gặp lại rồi”.
HỒ KIÊN GIANG