Ngày ấy, đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh còn muôn vàn khó khăn, gian khổ. Vì nhiệm vụ mà sau ngày thống nhất đất nước hơn nửa năm, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 12, Trung đoàn 84, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2 Nguyễn Thanh Tùng mới được về thăm nhà. Trong lần nghỉ phép này, Nguyễn Thanh Tùng đã đến thăm gia đình đồng đội Vũ Đình Trung, cách nhà ông hai quả đồi ở Đồng Quang, Thái Nguyên. Hai người đã gặp và thân thiết sau những trận đánh ác liệt trên chiến trường Quảng Trị. Vũ Đình Trung còn hẹn, hết chiến tranh sẽ gả em gái của mình cho Nguyễn Thanh Tùng, nên ông đến nhà đồng đội trong lòng đầy tự tin.
“Đó là một ngày cuối năm 1975, ngay lần đầu gặp, tôi đã có cảm tình với người con gái hiền lành, nhanh nhẹn, da trắng như trứng gà bóc”, ông Tùng kể. Còn bà Chính khi ấy vốn xinh xắn lại đang làm ở cơ quan thương nghiệp nên cũng có không ít người mối mai, hỏi cưới, nhưng chưa nhận lời ai. Bà bảo, có lẽ vì cái duyên cái số mà khi gặp anh bộ đội hiền lành, chân chất, mồ côi bố từ khi mới lên 9 tuổi, bà đã thấy có cảm tình. Bà cũng biết gia cảnh ông nghèo khó, một mình mẹ ông cáng đáng nuôi các con khôn lớn. Bà lại rất trọng tình cảm của gia đình ông. Trong một lần đến thăm nhà, mẹ ông, cụ Vũ Thị Thanh nói với bà Chính rằng: “Mẹ không có gì cho con cả, chỉ có mình mẹ thôi!”. Cụ đã chứng minh bằng tình cảm, sự yêu thương nhất mực dành cho con dâu.
    |
 |
| Đại tá, cựu chiến binh Nguyễn Thanh Tùng cùng vợ thăm Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn. Ảnh chụp lại |
Tháng 1-1977, lễ cưới của họ diễn ra trong sự chúc phúc của hai bên gia đình. Cô dâu Vũ Thị Chính e ấp, rạng ngời trong chiếc áo dài màu tím, ôm bó hoa lay ơn bên chú rể mang quân hàm Thượng úy trong bộ quân phục trang trọng. Bà Chính bảo rằng, thời gian và lòng tin đã bồi đắp khiến tình yêu của họ lớn lên theo năm tháng và vững vàng vượt qua mọi thử thách.
Bà Chính nhớ lại: “Cưới xong, ông ấy đi biệt luôn. Tôi ở nhà phụng dưỡng mẹ già, nuôi các em chồng khôn lớn. “Anh không về được thì chị vào thăm đi”... Nghe mọi người khuyên nhủ, tháng 12-1977, tôi quyết định tìm đến đơn vị thăm chồng”.
Ngày ấy, đi lại còn rất khó khăn. Bà đi tàu chợ từ Thái Nguyên xuống Hà Nội rồi lại đổi tuyến tàu khác để vào đơn vị của chồng đóng quân ở Cam Lộ, Quảng Trị. Nhưng tàu vào đến Vinh thì buộc phải dừng lại vì lũ lụt. 1 ngày 1 đêm lưu trú ở ga Vinh, may sao lũ rút, bà đi nhờ được xe công vụ của các anh bộ đội từ miền Bắc vào. Bà bảo lúc ấy gan lì lắm, dù khó khăn thế nào cũng quyết tâm không quay về. Nhưng đêm ấy, sau khi xuống ở bến xe Đông Hà, tìm vào nghỉ nhờ ở cơ quan thương nghiệp của tỉnh, bà đã khóc hết nước mắt vì tủi thân một mình nơi đất khách trong chuyến xa nhà đầu tiên. Bà không hề biết, đêm ấy, ông cũng lặn lội khắp các ngõ ngách của đường phố Đông Hà để tìm vợ. Rồi hai người gặp nhau trên cầu Đông Hà trong nỗi mừng tủi và hạnh phúc khôn xiết...
Đến tháng 10-1978, bà có 20 ngày bên ông trong chuyến thăm đơn vị ông lần thứ hai. Được vào thăm đơn vị chồng, bà hiểu hơn những khó khăn, vất vả của người lính Cụ Hồ sau chiến tranh. Vì thế, bà đã không hề trách khi năm 1978, đơn vị ông sang làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia, nhưng do yêu cầu nhiệm vụ bí mật, ông không cho bà biết. Ngày tiễn bà trở lại miền Bắc, ông chỉ nói đơn vị sắp đi diễn tập, bà cứ yên tâm chờ tin. Bà cũng không ngờ 5 tháng sau mới nhận được thư chồng. Lá thư nhiều chỗ đã mờ nhòe do thời gian di chuyển qua các trạm quân bưu khiến bà òa khóc vì vui mừng, hạnh phúc bởi đã biết được thông tin ông vẫn an toàn.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giúp nước bạn, ông Tùng và đồng đội về nước tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc và thực hiện nhiều nhiệm vụ khác. Bà kể, dù ông thường xuyên xa nhà, nhưng bù lại luôn có những bức thư chan chứa tình cảm và sự yêu thương là động lực để bà vượt qua mọi khó khăn. Bà thương mẹ chồng góa bụa khi mới hơn 20 tuổi và ở vậy nuôi các con. Thế nên khi về làm dâu con trong nhà, bà cũng muốn san sẻ bớt những gánh nặng với cụ. Bà tần tảo làm thêm để có thêm thu nhập. Căn nhà tranh vách đất ngày vợ chồng mới cưới đã xiêu vẹo, dù bụng bầu đã lớn, bà vẫn tự mình trộn bùn trát vách tránh mưa nắng. Ngày đi làm bách hóa thương nghiệp, chiều tối về lại nuôi lợn, chăn gà, trồng rau...
Năm 1994, cả nhà chuyển về Hà Nội để hợp thức hóa gia đình. Bà kể, về Hà Nội thì chủ yếu vẫn là mấy mẹ con bà cháu nương tựa vào nhau, bởi ông vẫn bận việc quân. Chưa có công việc ổn định, bà không quản ngại làm đủ nghề để kiếm sống.
Mới đó mà mấy chục năm đã qua. 3 người con nay đều phương trưởng, có việc làm ổn định và gia đình riêng yên ấm. Sau khi ông nghỉ hưu năm 2008 thì ông bà mới lại có được tháng năm sum vầy đúng nghĩa. Bà bảo có được sự đủ đầy của ngày hôm nay phải cảm ơn những tháng năm khó khăn, vất vả đã qua. Trải qua thử thách, tình yêu của ông bà ngày càng bền chặt. Còn ông Tùng, mỗi khi kể về vợ, ông luôn thể hiện sự trân trọng, cảm phục và yêu thương. Nếu không có sự chịu thương chịu khó, cả đời hy sinh vì chồng, vì con của bà làm hậu phương vững chắc, ông khó có thể làm tròn nhiệm vụ với Tổ quốc.
THU THỦY