Tháng 3-1972, đơn vị chúng tôi là Đại đội 10, Tiểu đoàn 15, Trung đoàn 284, Sư đoàn 367, đang bảo vệ giao thông trên dãy Trường Sơn thuộc Binh trạm 12, Bộ tư lệnh Trường Sơn (nay là Binh đoàn 12-Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn). Cấp trên bổ sung cho đơn vị chúng tôi 10 người, đều là những sinh viên của các trường đại học nhập ngũ, trong đó có 2 người là Trần Ngọc Thùy và Trần Tất Ngọ, cùng sinh năm 1953, cùng quê Mỹ Trung, TP Nam Định, tỉnh Nam Định, cùng nhập ngũ tháng 12-1971. Sau thời gian huấn luyện tại Đại đội 2, Tiểu đoàn 32, Sư đoàn 320B (nay là Sư đoàn 390, Quân đoàn 12), anh em được lệnh hành quân bằng ô tô vào bổ sung cho đơn vị chúng tôi. Thùy và Ngọ được sắp xếp nhiệm vụ thông tin liên lạc thuộc Tiểu đội chỉ huy.

Cuối tháng 3-1972, đơn vị chúng tôi được lệnh hành quân gấp, cơ động theo trục Đường 15 vào vĩ tuyến 17, tham gia cùng các đơn vị bạn chiến đấu, quyết tâm giải phóng tỉnh Quảng Trị. Tối 1-4-1972, đơn vị pháo phòng không của chúng tôi mới vượt bến Tắt qua sông Bến Hải, vừa hành quân vừa nổ súng đánh máy bay địch. Khí thế cả mặt trận tiến công dâng cao. Quân địch dọc vĩ tuyến 17 từ Đường 9-Khe Sanh đến Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cửa Việt đã xây dựng, củng cố công sự vững chắc, lại được trang bị vũ khí hiện đại, nhưng trước sự tiến công của ta, chúng sợ hãi, hoang mang bỏ chạy. Chiều 6-4, đại đội tôi đã đuổi được địch đến xã Cam Thanh, phía Bắc cầu Đông Hà. Chúng tôi phải dừng lại vì mố cầu phía Nam bị địch đánh sập. Tại đây, đại đội chúng tôi đã bắn được 2 máy bay. Phía bên kia sông Hiếu, quân địch đang hoảng loạn. Theo yêu cầu của trên, chúng tôi tổ chức đánh bộ binh địch, hỗ trợ đơn vị bạn truy kích địch. Ngày 28-4-1972, thị xã Đông Hà được giải phóng.

leftcenterrightdel

Cựu chiến binh Trần Ngọc Thùy (bên phải) cùng tác giả. 

Giữa tháng 5-1972, công binh của Bộ tư lệnh Trường Sơn đã làm ngầm phía thượng nguồn cầu Đông Hà, giúp chúng tôi vượt sông Hiếu. Đến khu vực sân bay Ái Tử, địch đã rút chạy, bỏ lại nhiều phương tiện, kho tàng, hàng hóa. Nay chúng đưa máy bay đến bắn phá làm chúng tôi phải chiến đấu liên tục, căng thẳng và một số đồng đội đã hy sinh. Cuối tháng 6-1972, chúng tôi lại có lệnh kéo pháo vào Thành cổ Quảng Trị. Đơn vị di chuyển lên phía Tây, rồi qua La Vang, Tích Tường. Xe tăng mở đường đi trước, chúng tôi bám sát đường xe tăng vượt qua bom và đạn pháo địch. Qua một quả đồi trọc thì một xe pháo của chúng tôi bị đổ. Trên xe có 8 người, trong đó có Thùy và Ngọ. May mắn là cả xe không ai hy sinh. Khắc phục sự cố xong, chúng tôi lại khẩn trương hành quân, quyết tâm vào Thành cổ.

Nhưng đến ngã ba Long Hưng, địch đã dùng máy bay B-52 trút bom rải thảm và cho pháo từ biển bắn vào, phía trong Mỹ Chánh bắn ra, khiến chúng tôi không vào được. Đại đội trưởng Hệ báo cáo cấp trên xin triển khai trận địa ngay tại ngã ba này, sau đó liên tục bắn chặn bộ binh địch đang vượt qua sông Mỹ Chánh, dọc theo Đường 1. Chúng tôi bắn mãnh liệt để ngăn cản chúng. Hết đạn, không có nguồn cung cấp, đơn vị được lệnh tháo pháo thành từng bộ phận, rồi cho bộ đội theo từng tốp lẻ rời khỏi trận địa trở về chỗ cũ ở sân bay Ái Tử.

Đến vị trí tập kết chờ đợi hành quân thì trời đã chập choạng tối. Tôi được lệnh cùng 5 đồng chí trợ lý của Tiểu đoàn quay lại kiểm tra các khẩu đội có ai bị thương, hy sinh thì tổ chức thu dung. Phát hiện vị trí tập kết của đơn vị chúng tôi, địch tổ chức tấn công. Chúng tôi tổ chức chiến đấu và rút qua một vài làng xóm. Gặp một số gia đình, thấy chúng tôi là bộ đội giải phóng, họ vắt cơm cho chúng tôi ăn và cho chúng tôi rất nhiều đồ hộp dự trữ. Quãng đường nhóm chúng tôi đi chỉ chừng 10km, nhưng sai phương hướng nên tới sáng 7-7-1972 mới về đến đơn vị tại nơi quy định; kiểm tra quân số còn thiếu 7 đồng chí, trong đó có Trần Ngọc Thùy và Trần Tất Ngọ.

Hôm sau, 6 trong số 7 đồng chí bị lạc đã về đến đơn vị, chỉ thiếu đồng chí Nguyễn Văn Nhập, quê ở Bắc Giang. Anh Dự, Chính trị viên Đại đội động viên bộ đội ổn định tư tưởng, củng cố công sự, chuẩn bị nhận vũ khí của đơn vị bạn bổ sung, sẵn sàng trở lại đánh địch ở Thành cổ.

Tối 19-7-1972, khi chuyển vị trí từ sân bay Ái Tử đến cao điểm 88 gần đó, anh Hệ, Đại đội trưởng, dẫn 2 chiến sĩ là Trần Tất Ngọ-thông tin cùng Đặng Văn Nga-liên lạc đến hầm tôi, chỉ cho 3 chúng tôi làm một hầm khác giữa cao điểm để có thể đánh địch đổ bộ đường không. Cả 3 chúng tôi hì hục đào liên tục tới gần sáng, khi đào sâu được gần 60cm thì máy bay địch trút bom xuống đúng đội hình Đại đội. 3 chúng tôi nằm sấp cùng chiều sát nhau, hai tay che tai, miệng. Chớp giật liên tục, tiếng nổ liên tiếp xé tai, mặt đất rung lên chao đảo. Một quả bom sát thương nổ cách hầm chỉ chừng 5-7m.

Chẳng biết bao lâu, chỉ đến khi nghe tiếng đồng đội gọi “anh Ngọc ơi”, tôi mới tỉnh, cố lật ngửa người nhưng không được, khi ấy mới biết mình đã bị thương. Tôi thều thào nói với đồng đội:

- Các đồng chí kiểm tra Nga và Ngọ ở bên phải tôi đi, vì họ gần bom hơn.

Tôi nghe mấy người cùng trả lời: Hai đồng chí đã hy sinh, còn anh thôi!

Mọi người đỡ tôi vào võng, sơ cứu vết thương ban đầu, rồi thay nhau cáng tôi tới Trạm phẫu thuật 204 gần nhất để cấp cứu. Tôi xa đơn vị chiến đấu từ đó.

leftcenterrightdel
 Cựu chiến binh Trần Ngọc Thùy (đội mũ) và con cháu tới thăm gia đình cựu chiến binh Đặng Sỹ Ngọc. Ảnh: THÀNH VINH

Tôi được chuyển dần ra miền Bắc điều trị, an dưỡng nhiều năm, may mắn sống sót đến ngày nay. Vào mùa xuân năm 2005, tức là sau ngày thống nhất Bắc-Nam 30 năm, tôi trở lại thăm một số nơi mình đã cùng đồng đội chiến đấu như xã Gio An (Gio Linh, Quảng Trị), Đường 74, 76, Hà Trung, Hà Thượng, các cao điểm 56, 82... và không quên khu vực sân bay Ái Tử (nay thuộc xã Ái Tử, tỉnh Quảng Trị). Tôi thắp hương trên từng phần mộ tại nghĩa trang liệt sĩ, kể cả những ngôi mộ chưa có tên. Tại khu B, tôi thấy hai ngôi mộ số 9 và số 10 có ghi rõ liệt sĩ Trần Tất Ngọ và Đặng Văn Nga, hy sinh đúng ngày tôi bị thương (20-7-1972). Vài năm sau, hài cốt của Nga và Ngọ được đưa về quê hương các anh.

Sáng 24-5-2025, trước cổng nhà tôi xuất hiện một chiếc ô tô con màu đen mang biển số của TP Hồ Chí Minh. Tôi mở cổng, người nhiều tuổi nhất trong xe mở cửa, chạy tới ôm chầm lấy tôi và gọi “anh Ngọc ơi!”. Tôi vô cùng xúc động và nhận ra ngay đó là Trần Ngọc Thùy. Tôi đưa anh và con cháu của anh vào nhà. Thùy kể lại: “Ngày 20-7-1972, khi mọi người đưa anh đi cấp cứu, em ở lại cùng đơn vị chôn cất Nga và Ngọ. Sau đó, đơn vị chiến đấu trên đất Quảng Trị tới ngày 1-8-1972. Trong một trận địch tấn công trận địa, em bị thương phải đi điều trị. Đến tháng 12-1972, em lại trở về đơn vị chiến đấu một thời gian nữa. Khi Quân đoàn 2 thành lập, em được điều động về công tác tại đây, tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đơn vị thần tốc có mặt tại Sài Gòn đúng ngày 30-4-1975. Sau ngày đó chừng hai năm, em được phục viên hưởng chế độ 613. Em xây dựng gia đình rồi đưa vợ con vào TP Hồ Chí Minh lập nghiệp cho đến nay...”.

ĐẶNG SỸ NGỌC