Nhiều lần tôi được gặp, trò chuyện với Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Phùng Văn Khầu (1930-2021), một nhân chứng lịch sử đặc biệt trong Chiến dịch Điện Biên Phủ vĩ đại. Sinh năm 1930 tại xã Đức Hồng, huyện Trùng Khánh (nay là xã Trùng Khánh), tỉnh Cao Bằng trong một gia đình bần nông dân tộc Nùng, lên 8 tuổi, cậu bé Khầu mồ côi cha mẹ, phải đi ở đợ cho nhà giàu. Cách mạng Tháng Tám thành công, Khầu tự nguyện tham gia hoạt động ở địa phương, bắt đầu là làm liên lạc, sau là chiến sĩ an ninh, rồi làm tất cả mọi việc có thể để phục vụ chính quyền nhân dân. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Phùng Văn Khầu xung phong vào bộ đội, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ từ những ngày đầu.
Vào trận, cậu tân binh Phùng Văn Khầu vẫn còn mù chữ, nhưng lại được giao làm khẩu đội trưởng sơn pháo 75mm. Sau chiến dịch, Khầu được Bác Hồ trực tiếp gắn tặng Huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên Phủ, là một trong 16 người được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân ngay sau chiến dịch. Người lính già Điện Biên Phủ ấy khi ở tuổi xưa nay hiếm, tóc trắng như cước, đôi mắt tinh anh, giọng sang sảng, nhưng mang đặc trưng của người dân tộc nói tiếng Kinh lơ lớ, không “tròn vành rõ chữ” nhưng đúng ngữ nghĩa, ngữ pháp.
Ông kể: “Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu, Đại đội sơn pháo 755 của tôi đóng quân ở Đồn Vàng (Phú Thọ). Ngày 14-3-1954, Đại đội 755 được lệnh vận động lên tham gia chiến dịch. Đại đội có 3 khẩu đội, mỗi khẩu đội gồm 9 người cùng 3 khẩu pháo 75mm, nặng gần 5 tạ. Khi hành quân, mỗi khẩu pháo phải tháo rời ra từng bộ phận, thay nhau vác, có khi phải vác nặng gấp 3 lần bình thường. Theo yêu cầu, khẩu đội tôi vào trận địa trước. Cả tuần hành quân, tối 20-3, chúng tôi tiếp cận được đồi E1, bắt đầu chuẩn bị công sự”.
    |
 |
Đại tá Phùng Văn Khầu. Ảnh: NGUYÊN THANH
|
Thời gian công tác ở Tổng cục II, Bộ Quốc phòng, chúng tôi được đọc cuốn sách tiếng Pháp “Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương 1945-1954”, Nhà xuất bản Plon, Paris, năm 1979, của tác giả Yves Gras, có đoạn mô tả bắt đầu chiến dịch: “Trận đánh bắt đầu bằng sự xuất hiện của pháo binh Việt Minh đã gây nên một bất ngờ chiến thuật thực sự... Được bố trí thành từng khẩu độc lập dọc sườn núi phía Đông lòng chảo nên họ tránh được các cuộc phản pháo và công kích của không quân Pháp. Pháo binh Việt Minh bắn trực tiếp, bắn dồn dập... Pháo binh Pháp rất dễ bị phá hủy bằng những phát đạn bắn thẳng từ trên núi”.
Nhiều tài liệu quân sự Pháp cũng đau xót thừa nhận, quân Pháp thua, nguyên nhân một phần lớn do tình báo không phát hiện ra Việt Minh có trọng pháo nên chủ quan. Về điểm này, thầy tôi-Thiếu tướng, PGS Cao Pha (1920-2006), nguyên Phó cục trưởng Cục II (nay là Tổng cục II), thời điểm chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ (năm 1953) là Trưởng phòng Quân báo mặt trận, được gần Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cũng khẳng định tình báo nói riêng và quân ta nói chung trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đã “che mắt” làm quân Pháp “mù” về thông tin pháo binh Việt Minh. Nhờ đó, pháo binh ta đã góp công lớn làm nên chiến thắng lịch sử.
Từng được nghe Thiếu tướng Cao Pha giảng chuyên đề về “Tình báo trong Chiến dịch Điện Biên Phủ”, nay được nghe một nhân chứng sống kể lại, tôi thấy hoàn toàn thống nhất. Tôi hỏi về điều anh hùng nhất của lực lượng pháo binh trong chiến dịch. Không đắn đo, bác Khầu nói ngay: Kéo pháo. Rồi bác giải thích, bao giờ, ở đâu cũng thế, yếu tố bất ngờ trong chiến tranh vô cùng quan trọng. Kéo pháo trong điều kiện rừng núi hiểm trở, lại phải giữ bí mật, không để lại dấu vết, không gây tiếng động lớn... là cực kỳ khó khăn, gian khổ. Đã thế, kéo pháo vào, lại phải kéo ra, rồi lại kéo vào. Những chuyện “động trời” ấy mà quân Pháp không hề biết, chứng tỏ quân ta đã bảo đảm chiến thắng cao rồi...
    |
 |
| Một số kỷ vật của Anh hùng Phùng Văn Khầu tại Bảo tàng Pháo binh. |
Các nghiên cứu quân sự phương Tây hiện đại hầu như thống nhất cho rằng pháo binh Việt Minh đã góp phần rất quan trọng làm suy yếu căn bản pháo binh và tinh thần quân Pháp. Đây là ý kiến của một nhân chứng trong cuộc-Trung tá Marcel Bigeard, về sau là Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp: “Những cuộc pháo kích của Việt Minh chặn đứng pháo binh của chúng tôi, các khẩu súng cối của chúng tôi không thể nhả đạn” (“Lời thú nhận muộn mằn”, năm 2004, Nhà xuất bản Hà Nội, trang 78). “Lời thú nhận” này hoàn toàn phù hợp với sự kiện: Trung tá Charles Piroth, chỉ huy pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ tự sát vào sáng sớm 15-3. Phải chăng là do quá bất ngờ với tình huống, đủ kinh nghiệm nghề nghiệp, vị Trung tá đáng thương ấy đã linh cảm về sự thua cuộc sẽ đến với quân Pháp, trong đó lỗi lớn thuộc về pháo binh?
Xin tiếp tục với lời Đại tá Phùng Văn Khầu. Tôi hỏi: “Trận chiến nào, ở đâu, với bác là ác liệt nhất?”. Thoáng chút bồi hồi, ngập ngừng, giọng đứt quãng trong dòng hồi ức đầy cảm xúc, người cựu binh chậm rãi nói: “Ngày 23-4-1954, quân Pháp phản công, có cả xe tăng, pháo 105mm nhằm chiếm lại đồi E1. Địch đánh sập hầm hai khẩu đội. 18 đồng chí hy sinh và bị thương. Chỉ còn khẩu đội của tôi là chiến đấu được. Địch điên cuồng chống trả. Đạn bắn như vãi. Pháo nổ ngay trước mặt. Đến lúc khẩu đội chỉ còn tôi-Khẩu đội trưởng và Lý Văn Pao-pháo thủ. Chúng tôi lần lượt bắn hạ từng mục tiêu. Pao bị thương. Chỉ còn một mình, tôi quan sát, ngắm mục tiêu, nạp đạn, giật cò... Sức ép của đạn pháo địch làm tôi ngất đi, sau khi đã diệt gọn cả 4 khẩu pháo 105mm và 2 khẩu đại liên địch, tạo điều kiện cho quân ta ào ạt tiến công”...
Theo tài liệu của Binh chủng Pháo binh-Tên lửa, đến tháng 12-1949, đồng chí Phùng Văn Khầu mới được biên chế chính thức vào Trung đoàn 675. Tài liệu cũng ghi lại điều đặc biệt: Trong Mặt trận Điện Biên Phủ, Anh hùng Phùng Văn Khầu chưa biết chữ, chưa sử dụng được máy ngắm, chỉ ngắm qua nòng pháo và bắn 22 phát thì 21 phát trúng mục tiêu...
    |
 |
| Bìa cuốn sách “Anh hùng Điện Biên Phùng Văn Khầu suốt cuộc đời theo gương Bác”. |
Tôi hỏi, vì sao làm được như vậy? Sau phút trầm tư, giọng vị anh hùng lắng xuống: “Vì tính tiết kiệm. Một quả pháo ấy nuôi được cả một gia đình 6, 7 người trong nửa năm. Chúng tôi nghèo nên xót của, cố gắng bảo nhau mà bắn trúng, vừa được trên khen, lại vừa đỡ xót ruột... Còn là cả lòng căm thù nữa. Giặc Tây ác lắm. Cao hơn cả là tin và yêu Bác Hồ, cách mạng. Chỉ có thắng Pháp mới đổi đời. Nên phải bằng mọi giá vượt qua. Người và pháo như là đồng chí. Yêu pháo hết mình, nó sẽ “mách” cách bắn trúng. Nó cũng “bảo” phải thao tác thế này, hành động thế kia... Còn là nghe lời chỉ huy, học đồng đội, hỏi cấp trên. Cái gì chưa biết phải hỏi kỹ, không giấu dốt...”.
Có một điều rất tự hào, ở đâu cũng kể, như ông nói là “phải khoe”: Vinh dự 5 lần được gặp Bác Hồ, một lần được Bác đến thăm gia đình. Tháng 7-1965, khi ông đang chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên-Huế, dịp Bác Hồ lên thăm Khu tự trị Việt Bắc, có đến thăm gia đình Phùng Văn Khầu. Bác Hồ chia kẹo cho hai cô con gái và dặn bà Cay (vợ Anh hùng Phùng Văn Khầu tên là Hà Thị Cay, quê ở Thái Bình, nay là Hưng Yên) nuôi con khỏe, dạy con ngoan, để chồng yên tâm chiến đấu. Từ đồng cảnh đến đồng cảm, hai vợ chồng ông đã cùng nhau viết nên câu chuyện tình rất đẹp!
Đại tá, PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ