Bấy giờ, vào cuối thu năm 1972, tuy các trận giao chiến đã giảm nhưng mật độ các cuộc bắn phá bằng phi pháo của địch lại tăng dữ dội. Do tính chất tác chiến, những người lính trinh sát pháo binh chúng tôi phải di chuyển liên tục và nhiều khi đi lẻ một mình. Đây là giai đoạn rất khó khăn của quân ta. Đạn dược, lương thực đều thiếu, trong khi đó địch lại làm chủ bầu trời. Suốt ngày đêm, máy bay trinh sát OV-10, L-19 quần thảo. Nghi ngờ chỗ nào có hoạt động của quân ta là chúng bắn pháo khói, gọi ngay phản lực đến.

Một buổi tối cuối thu năm 1972, tôi cùng anh Bạn, Trung đội trưởng Trung đội trinh sát, Tiểu đoàn 14 pháo binh, Sư đoàn 325, có nhiệm vụ tìm vị trí đặt đài quan sát mới để phục vụ việc bắn tiêu hao lực lượng địch trong Thành cổ Quảng Trị. Chúng tôi báo cáo và được trên nhất trí chọn làng Nhan Biều, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, làm nơi đặt đài. Tối muộn hôm ấy, chúng tôi rời sở chỉ huy ở gần cầu Lai Phước hành quân chiếm lĩnh vị trí.

leftcenterrightdel

 O Diệp tại nhà riêng, tháng 3-2026. Ảnh: HIẾU GIANG

Đoạn đường không dài nhưng chúng tôi phải đi vòng tránh pháo tọa độ của địch nên mãi khuya mới tới nơi. Đêm hôm khuya khoắt, tìm cho ra một vị trí đặt đài thật chẳng dễ dàng. Tôi và anh Bạn kẻ trước người sau, dò dẫm tìm mãi mới được điểm ưng ý ở giữa làng, nơi có mấy thân cây cụt to. Tôi rút xẻng, tìm địa hình rồi bắt tay vào đào hầm. Sau một lớp xẻng, đất cứng, lớp sau đào khá dễ. Khi đã đào gần ngập đầu gối, tôi vừa ngẩng lên, vặn người cho đỡ mỏi thì bất ngờ, sườn tôi bị một mũi súng thúc vào đau điếng kèm tiếng quát lớn. Nghe rõ giọng con gái, tôi phát hoảng: “Đừng có đùa dại dột, cẩn thận, súng cướp cò thì chết đấy!”.

“Không đùa, đưa tay lên sau ót!”, vẫn giọng ấy. Phỏng đoán có thể là thám báo địch, nên tay vừa đưa lên sau gáy, tôi đồng thời lộn một cú khéo léo và chính xác. Tôi đã ở phía sau người thúc súng vào tôi. Việc tiếp theo là khóa tay, tước súng, khống chế đối phương. Truy hỏi nhanh, tôi có thông tin o tên Diệp và là du kích địa phương. Mặc cho tôi lúng túng lưỡng lự không biết có nên trói cô bằng sợi dây võng vừa tháo hay không, cô gái vận toàn đồ đen không chống cự. Lát sau cô mới khẽ nói: “Eng nỏ tin răng eng nỏ trói, chừ tin rồi thì thả tay em ra, ta cùng trao đổi nghen!”.

“Cũng được!”, tôi trả lời và thả tay cô gái ra. Cô đưa hai tay lên búi lại tóc. Lúc ấy, tôi mới nhìn thấy một gương mặt trắng lạ lùng trong đêm tối. “Eng ở đơn vị mô mà nơi ni em nỏ được thông báo?”, cô hỏi tôi khi cả hai cùng ngồi xuống mép hầm tôi đang đào dở. “Tôi ở Tiểu đoàn 14. Chúng tôi tới đây theo kế hoạch hiệp đồng tác chiến với Tiểu đoàn 7”, tôi trả lời. Nghe vậy cô khẽ reo lên và hỏi sao chúng tôi không tìm du kích hoặc Ban chỉ huy Tiểu đoàn 7 mà tự đào hầm cho vất vả...

Cuộc trò chuyện khiến tôi phỏng đoán đây chính là o Diệp mà anh em trong đơn vị từng kể. Khi có câu trả lời xác nhận, tôi không khỏi xấu hổ vì hành động trước đó có phần mạnh tay do nghĩ cô là người của phía bên kia. Nghe tôi tạ lỗi, Diệp khoát tay tỏ ý không sao.

leftcenterrightdel
Nhà báo Phùng Huy Thịnh (bên trái) hồi ở chiến trường. Ảnh chụp lại 

Tôi đã quen Diệp trong tình huống oái oăm như vậy. Tên đầy đủ của o là Trần Thị Diệp, sinh năm 1954, ở xã Triệu Thượng. Sau đó, tôi có nhiều dịp cùng chiến đấu bên cô, được chứng kiến vẻ đẹp của người con gái Quảng Trị trẻ tuổi ấy và thừa nhận trái tim tôi cũng đôi khi xao xuyến lúc nhớ đến cô. Diệp nhỏ nhắn với khuôn mặt xinh xắn. Thực tình ưu thế vẻ đẹp của cô không chỉ ở đôi mắt đen to hay cái miệng nhỏ nhắn có duyên mà còn ở nước da trắng hồng hiếm thấy. Cô vừa là Xã đội phó vừa kiêm cả chức Đại đội trưởng Đại đội du kích huyện. Đơn vị này từng được phong tặng danh hiệu anh hùng trước đó và luôn sát cánh cùng bộ đội chủ lực chốt giữ vùng phía Tây Quảng Trị cho đến khi Hiệp định Paris được ký kết.

Đài quan sát của chúng tôi được đặt gần Ban chỉ huy Đại đội du kích. Diệp luôn có mặt ở đài, khi cùng chúng tôi xác định tọa độ, mục tiêu bên kia sông, khi thì trực tiếp nấu ăn giúp chúng tôi. Nhiều lần cô hỏi mượn chúng tôi cuốn Logarit thập phân dùng để tính toán cự ly và phần tử bắn tự học. Có lẽ vì có cô mà cánh lính đa phần là sinh viên Đại học Tổng hợp tụi tôi trở nên lịch thiệp và sống “ga lăng” hơi quá sức mình. Ai cũng quý mến Diệp. Cô cũng dành nhiều tình cảm cho cánh trinh sát pháo binh chúng tôi.

Là người địa phương, Diệp thuộc lòng địa hình. Vì vậy chúng tôi luôn cần đến sự giúp đỡ của cô mỗi khi cần xác định tọa độ, các vật chuẩn. Khi không phải lâm trận, chúng tôi thường tụ tập đàn hát trong những căn hầm bò, những lần ấy, cả tôi và Diệp đều là ngôi sao. Tôi thì hát những ca khúc trữ tình Nga và dân ca quan họ, còn Diệp thì hò Huế và một ít bài ca ướt át phổ biến trong miền Nam lúc bấy giờ.

 Nhưng rồi tôi phải rời khỏi nơi ấy, cũng đột ngột như khi đến. Chuyện này xảy ra sau trận đánh phối hợp tiêu diệt bến vượt sông của Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ngụy. Tôi bị mảnh pháo cắm vào xương ống chân phải, khi tôi ngồi vắt vẻo trên chạc cây xoài cụt để chỉnh độ lệch đạn cối 120mm của Tiểu đoàn. Lúc đó đài quan sát chỉ có tôi và Quý, chiến sĩ thông tin làm nhiệm vụ gọi bắn. Trước khi vào trận, chúng tôi đã liên hệ đề nghị du kích tăng cường giúp một người. Chính Diệp đã có mặt để truyền độ lệch đạn từ chỗ tôi quan sát, gọi to vào hầm thông tin, giúp Quý nghe rõ và truyền về sở chỉ huy Tiểu đoàn bằng điện thoại hữu tuyến.

Mọi lần, khi chúng tôi bắn pháo thì địch im. Lần này chúng phản pháo ngay lập tức, mà lại bắn ngay vào khu vực đài quan sát. May sao khi chỉnh đạn trúng mục tiêu và trận địa đã bắn cấp tập rồi, tôi mới bị thương. Tôi được lệnh ngừng quan sát, xuống hầm tránh đạn pháo địch. Tôi toan giấu Quý và Diệp vết thương nhưng không được. Máu chảy ít, nhưng mảnh đạn làm vỡ một chút xương ống chân khiến tôi đau đớn. Diệp tự tay rạch ống quần tôi để băng bó vết thương. Diệp cố làm ra vẻ bình thản, nhưng tôi thấy rõ tay cô run rẩy, khiến máu từ vết thương tôi loang sang cả hai bàn tay trắng ngần của cô. Vì Quý vẫn phải tiếp tục liên lạc với trận địa pháo ta nên chỉ có tôi và Diệp ngồi với nhau ở góc ngoài hầm giữa tiếng pháo đôi bên nổ ầm trời lúc đó. 

Pháo vẫn nổ nhưng thưa thớt dần, chúng tôi vốn quen với những trận như thế này, bởi vững tin vào sự chắc chắn của hầm tránh pháo. Tôi khẽ đưa tay nắm lấy tay Diệp, cô cứ để nguyên bàn tay ấm nóng, trắng trẻo của mình trong bàn tay thô ráp của tôi. Chúng tôi cùng không nói thêm với nhau một lời nào nữa, cho tới khi Quý thông báo lệnh của Tiểu đoàn trưởng đưa tôi về hậu cứ. Tôi chia tay Quý, đi theo y sĩ Tiểu đoàn tới đón vào lúc chiều tà. Diệp tiễn tôi tới tận rìa làng Tả Hữu. Trước khi buộc phải lên cáng vì không đi nổi nữa, tôi đưa bàn tay bắt tay Diệp thì em cúi mặt không nhìn tôi. Nắm bàn tay em trong tay, tôi nói khẽ: “Tạm biệt Diệp, hẹn ngày trở lại!”. Diệp ngẩng lên, mấy giọt lệ nóng bỏng từ đôi mắt to đen của em rơi xuống tay tôi, khiến tôi xao xuyến. Em cố nói giọng rắn rỏi: “Eng cố điều trị cho mau khỏe nghe, đừng quên tụi em!”, nhưng giọng em nghèn nghẹn. Muốn nói với Diệp nhiều điều nhưng không hiểu sao tôi không thể thốt thành lời, rân rấn nước mắt nhìn em.

... Thế rồi, khi khỏi vết thương, tôi được điều về cơ quan quân khu, sau đó vào tận Tây Nam Huế và ở luôn vùng đó cho đến lúc tham gia chiến dịch giải phóng nơi này. Công việc liên miên khiến tôi không có dịp trở lại Quảng Trị, cũng không có điều kiện liên hệ thư từ với Diệp. Tôi theo chân các đơn vị của Quân đoàn 2, rồi trở thành phóng viên mặt trận tháng 5-1974. Tôi được biết em cùng đơn vị vào giải phóng thành cổ lúc tôi cùng Quân đoàn 2 giải phóng Huế-Đà Nẵng. Mãi tháng 10-1975, trên đường hành quân ra Bắc, tôi mới lại được ngang qua vùng đất xưa. Chiếc ô tô chở tôi qua thành cổ vào ban đêm. Thành cổ Quảng Trị vẫn đổ nát, im lìm, vắng lặng. Xe lướt nhanh dưới ánh trăng mờ lạnh lẽo cuối thu, đưa tôi xa dần cái mục tiêu bắn phá ngày nào. Khi xe qua làng Nhan Biều, lúc ấy đã kịp xanh rợp cây trái hồi sinh, tôi chỉ còn biết thầm kêu da diết: “Diệp ơi, em ở đâu?”. Cho mãi tới sau này, tôi vẫn còn ân hận là tại sao đã không quyết định rời ngay khỏi xe để lao xuống đường đi tìm em.

Mỗi khi nghĩ tới Quảng Trị, lòng tôi không khỏi nhói lên xao xuyến. Và điều khiến tôi day dứt là không biết Diệp-o du kích của chúng tôi ra sao, liệu em có một cuộc sống xứng đáng với những gì tuổi trẻ của em và bạn bè đã bỏ ra vun đắp không.

Năm 2012, tôi nhận được từ Nguyễn Đức Minh, cựu chiến binh Trung đoàn 95 giữ thành cổ (qua đời năm 2016) bức thư viết tay của o Tâm, cựu nữ du kích xã Triệu Thượng, gửi tôi từ năm 1996. Trong thư, o Tâm báo tin đã tìm được o Diệp. Diệp có gia đình đầm ấm, hạnh phúc ở TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, với hai con ăn học đến nơi đến chốn và mời tôi vào thăm Quảng Trị để gặp gỡ các o du kích năm nào. Tiếc thay năm ấy, vợ tôi bệnh nặng nên tôi phải chăm sóc không rời và nhiều năm sau, tôi chỉ có thể liên lạc với các o qua điện thoại. Cho đến bây giờ, giữa chúng tôi vẫn có sợi dây tình cảm đồng đội tha thiết, quý trọng!

Nhà báo PHÙNG HUY THỊNH