Sinh năm 1944 tại vùng đất Hưng Mỹ (Bến Tre), chàng thanh niên Phạm Minh Thảo lên đường nhập ngũ khi vừa tròn 19 tuổi. Sau thời gian huấn luyện chiến sĩ mới, Phạm Minh Thảo được chọn vào lớp đào tạo đặc công đầu tiên của tỉnh. Khóa huấn luyện ngày ấy không chỉ sử dụng vũ khí, học viên còn được học cách ngụy trang, nghệ thuật “tàng hình”. Sau 3 tháng huấn luyện khắc nghiệt với những bài tập luồn sâu, ém sát, dùng bùn đất ngụy trang để áp sát mục tiêu mà không gây ra một tiếng động, Tám Thảo về nhận nhiệm vụ tại Đại đội đặc công thuộc Tiểu đoàn 516, Bộ CHQS tỉnh Bến Tre.

Đến cuối năm 1967, trước ngưỡng cửa của Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, tỉnh Bến Tre quyết định thành lập các đơn vị đặc công độc lập là các Đại đội 219A, 219B và 219C. Lúc này, với kinh nghiệm dày dặn qua hàng chục trận đánh lớn nhỏ, Tám Thảo được tin tưởng giao trọng trách Trung đội trưởng thuộc Đại đội 219A (Đại đội 1), biên chế 75 cán bộ, chiến sĩ.

Trận đánh vào sân bay Tân Thành (sân bay dã chiến địch xây dựng tại Bến Tre) đêm Giao thừa Tết Mậu Thân 1968 đối với Tám Thảo là nỗi ám ảnh và cũng là niềm tự hào lớn nhất. “Đêm đó, chúng tôi chia làm 3 mũi tấn công, lợi dụng lúc địch chủ quan, tôi chỉ huy anh em luồn qua những lớp rào kẽm gai. Đúng 12 giờ đêm, tiếng pháo hiệp đồng từ hướng Tiền Giang vang dội, cũng là lúc chúng tôi vọt lên giữa lòng sân bay. Khói lửa mù mịt, kho xăng bốc cháy ngùn ngụt đỏ rực một góc trời. Những chiếc máy bay L-19, C-130 chưa kịp cất cánh đã bị thiêu rụi ngay trên đường băng”, ông Tám Thảo kể đầy tự hào.

leftcenterrightdel
Đại tá Phạm Minh Thảo. Ảnh: TÀI PHAN 

Thế nhưng, chiến thắng nào cũng có những tổn thất nhất định. Trận đánh ấy, 6 đồng chí thuộc một tiểu đội tại mũi cửa mở đã hy sinh do vướng mìn định hướng của địch khi đang rút quân. Ông Tám Thảo nghẹn ngào kể lại giây phút cùng đồng chí y tá bò ngược vào sân bay dưới làn đạn dày đặc để tìm anh em. Do địch phản kích quá mạnh, ông phải đau đớn quyết định giấu thi thể đồng đội dưới ruộng, dùng bùn che phủ để chờ tối mới dám quay lại đưa về. “Đánh trận thì không sợ chết, chỉ sợ không đưa được anh em về với đất mẹ”, ông xúc động nói.

Người lính đặc công không chỉ có lòng dũng cảm mà còn phải có trí thông minh và sự am hiểu tường tận địa bàn. Ông Tám Thảo kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về trận đánh Phân chi khu Bình Khánh năm 1972. Để vượt qua hàng rào được bảo vệ bởi những con chó béc-giê hung dữ có khả năng đánh hơi người lạ từ xa, ông dùng chiến thuật “độc nhất vô nhị” mà ông gọi vui là “bài thuốc an thần”. Đó là cách ông xin thuốc ngủ từ quân y, tán nhỏ trộn với trứng vịt lộn rồi nhờ cơ sở bí mật ném cho chúng ăn trước giờ nổ súng. Loại thuốc này không làm chó chết mà khiến chúng trở nên lờ đờ, hưng phấn theo kiểu “say thuốc”, thấy bộ đội là mừng rỡ vẫy đuôi thay vì sủa báo động. Nhờ sự mưu trí này, đơn vị đã tiếp cận hàng rào dễ dàng, vượt qua 5 lớp rào kẽm gai mà địch không hề hay biết. Chỉ mất 20 phút sau khi nổ súng, toàn bộ phân chi khu bị xóa sổ, đơn vị thu gọn vũ khí mà không mất một chiến sĩ nào.

Sau ngày đất nước thống nhất, Tám Thảo tiếp tục cầm súng bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia suốt 8 năm trong Đoàn 9906. Ở chiến trường K, ông tiếp tục vận dụng những kinh nghiệm đặc công để chỉ huy đơn vị chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt. Đến năm 1987, sau một chấn thương nặng khiến xương chân bị vỡ, ông rời chiến trường trở về, đảm nhiệm chức vụ Phó tham mưu trưởng Bộ CHQS tỉnh Bến Tre cho đến ngày nghỉ hưu với quân hàm Đại tá năm 1998.

HỮU TÀI