Vượt sông Thạch Hãn
Sáng sớm 12-7-1972, trong lúc Trung đội 3, Đại đội 1, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 18, Sư đoàn 325 của chúng tôi đang họp tại làng Trung An, xã Triệu Trung, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị để triển khai kế hoạch chiến đấu thì pháo của Lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến ngụy bắn vào khu vực đơn vị. Một quả pháo nổ cách hầm chúng tôi khoảng 1m làm sập cửa hầm. Cửa hầm bị bịt kín, 5 anh em gồm 2 cán bộ trung đội và 3 tiểu đội trưởng thoi thóp thở qua ống thông hơi duy nhất không bị lấp...
Hơn 30 phút sau, đồng đội ở bên ngoài mới đào bới đưa được chúng tôi ra khỏi hầm. Lúc này, máu từ miệng, từ mũi tôi rỉ rả chảy, ngực như bị ép lại. Sau khi được y tá kịp thời sơ cứu tại chỗ, tôi và mọi người dần hồi tỉnh lại. Tôi nghe mọi người nói, nơi địch bắn pháo vào hầm của chúng tôi tạo thành hố sâu như cái giếng cạn, rộng như chiếc nong. Ai cũng hú vía và mừng vì thoát chết trong gang tấc. Sau đó, tôi được đưa về trạm phẫu của Trung đoàn 18 điều trị khoảng 10 ngày rồi trở lại đơn vị, tiếp tục cùng đồng đội bước vào những trận chiến đấu đầy cam go, khốc liệt.
    |
 |
Đại tá, cựu chiến binh Đinh Quang Thìn ở Thành cổ Quảng Trị, tháng 4-2011. Ảnh do nhân vật cung cấp
|
Theo lệnh của cấp trên, ngày 25-7-1972, Trung đoàn 18 cơ động về đứng chân ở khu vực huyện Cam Lộ (Quảng Trị). Riêng Tiểu đoàn 7 chúng tôi được lệnh vượt sông Thạch Hãn để tăng cường cho lực lượng trực tiếp chiến đấu bảo vệ thị xã và Thành cổ Quảng Trị là Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B; Trung đoàn 95, Sư đoàn 325 và K3, K8 Tỉnh đội Quảng Trị. Kỷ niệm đêm vượt sông Thạch Hãn vẫn sống mãi trong tôi. Chiều tối 10-8, đơn vị tôi được lệnh vượt sông Thạch Hãn sang Thành cổ. Sau bữa ăn chiều được nấu theo tổ 3 người bằng ăng-gô Trung Quốc, chúng tôi nhanh chóng chuẩn bị phao bơi bằng cách gói ba lô trong mảnh ni lông, còn súng AK sẽ gác trên phao khi bơi qua sông.
Khi có lệnh của cấp trên, đồng chí Bạch Văn Giáp, Trung đội phó Trung đội 3 (sau này là Trung đội trưởng, thương binh hạng 2/4, bị chấn thương sọ não. Đồng chí Giáp quê ở
Vĩnh Phú, nhập ngũ cùng tôi, là đảng viên trước khi vào bộ đội) chỉ huy tiểu đội chúng tôi vượt sông. Chúng tôi phải vận động các tư thế trên chiến trường gần 300m mới tiếp cận được mép nước. Lúc này đã hơn 18 giờ, mặc dù trời nhá nhem tối nhưng quân địch vẫn phát hiện được. Chúng dồn dập nã pháo và bắn pháo sáng rực cả dòng sông. Tôi dùng hết sức đẩy mạnh phao bơi, cố gắng bơi nhanh sang bờ Nam cùng đồng đội. Chúng tôi được trinh sát dẫn vào vị trí thay chốt. Một người lính canh chốt hỏi với giọng đặc chất miền Trung: “Các anh ở đại đội mấy đấy?”. Tôi trả lời: “Chúng tôi ở Đại đội 1, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 18 đây”. Lại có tiếng nói: “Không phải, các anh ở Đại đội 6 vào đấy”. Cứ tưởng các đồng chí ấy nhầm nhưng không phải. Họ nói chúng tôi là đại đội thứ 6 vào thay chốt của K8 Tỉnh đội Quảng Trị...
Kiên cường giữ chốt
Xác định tầm quan trọng là chốt tiền tiêu phía trước của đơn vị nên bằng mọi giá phải giữ bằng được, còn người là còn chốt. Biến quyết tâm thành hành động, tôi cắt cử người cảnh giới và động viên anh em trong tiểu đội tập trung đào hào kiểu râu tôm tỏa ra hai bên sườn của lô cốt. Tiểu đội tôi xoay trần hì hục đào hào, củng cố công sự suốt cả đêm, dưới ánh sáng của ngọn đèn dù pháo sáng. Đến gần sáng mới hoàn tất, anh em nghỉ tay ăn tạm vài miếng lương khô, khát nước đành uống vội ngụm nước sông.
Sáng sớm 11-8-1972, quân địch nã các loại hỏa lực vào chốt của chúng tôi, kể cả pháo bắn đạn hóa học nhằm dọn đường cho trận tấn công của chúng. Sau đó, lợi dụng vật che khuất, bộ binh địch mò gần vào chốt. Một tên địch tay vung vẩy khẩu súng ngắn, liên tục hò hét quân xông lên. Khi chúng chỉ còn cách chốt khoảng 20m, tôi hô tiểu đội nổ súng tập trung diệt tốp đi đầu. Khẩu trung liên trong lô cốt sắt gầm lên xả đạn về phía quân địch. Tên chỉ huy trúng đạn đổ vật ra trước chốt, lũ lính còn lại hốt hoảng vội kéo xác đồng bọn lùi về phía sau.
Chấm dứt đợt tiến công thứ nhất, quân địch lại tiếp tục bắn các loại pháo chùm về phía chốt của ta, cát, đá, khói bụi bay mù mịt. Tiếp đó, chúng lại tổ chức tràn lên. Phát hiện một tốp hơn chục tên địch đang tụ tập bu bám ở một góc nhà đổ, tôi gọi đồng chí Nông Hòa, Tiểu đội phó (người dân tộc Tày, quê ở Bắc Thái) vác súng B40 cơ động ra chiến hào tiêu diệt địch. Hòa bắn 1 quả đạn B40, góc nhà bị san phẳng và tốp địch bị tiêu diệt. Khi Hòa chuẩn bị bắn tiếp quả B40 thứ hai thì anh bị trúng đạn địch, phải đưa vào hầm băng bó.
Bọn địch vẫn hung hăng, không chịu từ bỏ âm mưu đánh chiếm chốt. Chúng như con thiêu thân, tổ chức đợt tấn công tiếp theo theo lệnh của chỉ huy. Trước tình hình nguy cấp, tôi chộp ngay khẩu B40 của Hòa, cơ động theo giao thông hào ra vị trí chiến đấu và bắn liên tiếp 3 quả đạn vào chỗ quân địch đang tập trung đông nhất, nguy hại nhất. Lúc này, tai tôi ù đi, chẳng còn nghe thấy gì hết. Sau khi lắp đến quả đạn thứ tư, chuẩn bị bắn thì tôi bị trúng mảnh đạn M79 của địch. Máu ở mặt và cánh tay trái chảy đầm đìa khiến tôi choáng váng, khẩu súng bật rời khỏi tay. Tôi chỉ kịp kêu: “Tôi bị thương rồi” và ngã khuỵu xuống, lịm đi không biết gì nữa. Sau này nghe anh em kể lại, cuộc chiến đôi bên tiếp tục giằng co đến tận xế chiều. Tiểu đội tôi dù có một số anh em bị thương nhưng trận địa vẫn được giữ vững, thật mừng vô cùng.
    |
 |
| Đại tá, cựu chiến binh Đinh Quang Thìn (ngoài cùng, bên phải) cùng đồng đội Ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 18, Sư đoàn 325. Ảnh do nhân vật cung cấp |
Gần tối, anh em trong tiểu đội đưa tôi về tầng hầm của dinh tỉnh trưởng, nơi bố trí đội phẫu tiền phương và sở chỉ huy của Ban chỉ huy thị xã Quảng Trị. Nông Hòa, chiến sĩ Hùng (quê ở Thạch Thất, Hà Tây) bị thương cũng được đưa về trạm phẫu này. Chúng tôi được các đồng chí quân y băng bó vết thương, được cán bộ, chỉ huy Trung đoàn 18 trực tiếp thăm hỏi, động viên và được bố trí nghỉ ngơi tại những hầm kèo xung quanh dinh tỉnh trưởng để chờ đến chập tối đưa qua sông về tuyến sau điều trị.
Do quá mệt, tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay, đến khi đồng chí nữ y tá cầm đèn đi rà soát lại thương binh mới phát hiện còn sót tôi và một số thương binh nặng nằm bất động. Sau này nghe đồng đội kể lại, do số lượng thương binh khá nhiều, những thương binh nặng mới được nằm trên thuyền để anh em công binh đẩy qua sông. Chân tôi bị thương không thể tự đi nên được đồng đội dìu xuống thuyền, lặng lẽ rời bờ Nam, xuôi theo dòng sông khoảng 2km sang bờ Bắc sông Thạch Hãn...
Khoảng 9 giờ sáng hôm sau khu vực trạm phẫu mới di chuyển, nhưng bị thám báo địch phát hiện và chỉ điểm cho máy bay đánh bom trúng đội hình. Đang nằm nghỉ để làm thuốc, nghe tiếng bom, tôi bật ngay dậy lao xuống hầm kèo ngay đầu nhà. Tôi may mắn không bị thương lần nữa, nhưng một đồng chí thương binh chạy sau tôi khoảng 1m bị mảng tường to của căn nhà đổ sập đè lên người, hy sinh ngay tại cửa hầm. Tôi được di chuyển về bệnh xá của Sư đoàn 325 bên bờ suối La La, Cam Lộ để điều trị. Vết thương ổn định, tôi được cấp trên cử đi học lớp đào tạo cán bộ trung đội trưởng đầu tiên của Sư đoàn 325, đáp ứng nhu cầu cho cuộc chiến còn tiếp diễn...
Đời binh nghiệp đã để lại nhiều dấu ấn, kỷ niệm, đặc biệt là hai lần bị thương trong 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ thị xã và Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Sau mỗi lần bị thương, tôi luôn tự an ủi, động viên: Số mệnh đã ưu ái cho mình được sống, không như anh trai mình và các đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường.
Trước khi nghỉ hưu vào năm 2005, tôi là Đại tá, Phó trưởng phòng Dân quân tự vệ, Bộ Tham mưu Quân khu 1. Mỗi lần nhớ về Quảng Trị, hình ảnh những trận chiến đấu, những đồng đội đã anh dũng hy sinh luôn hiện lên trong tâm trí tôi. Có rất nhiều đồng đội của tôi đã vĩnh viễn nằm lại mảnh đất Quảng Trị anh hùng, giữa dòng sông thiêng Thạch Hãn...
Đại tá ĐINH QUANG THÌN